sakuraluu
04-12-2010, 10:24 AM
Dowload ở đây
94
http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/nghi-dinh-thu-ve-hoi-nghi-duong-sat-bien-gioi.132930.html
NGHỊ ĐỊNH THƯ
HỘI NGHỊ ĐƯỜNG SẮT BIÊN GIỚI GIỮA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ BỘ ĐƯỜNG SẮT NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA LẦN THỨ 21
- Căn cứ "Hiệp định đường sắt biên giới" giữa Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ đường sắt nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ký ngày 8-3-1992 tại Bắc Kinh, Hội nghị đường sắt biên giới giữa Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ đường sắt nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lần thứ 21 đã họp tại Hà nội từ ngày 29-1 đến ngày 02-2-1996.
Tham dự Hội nghị có:
Hai đoàn đại biểu đường sắt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (danh sách 2 đoàn xem ở phụ kiện số 1). Đại biểu hai bên qua bàn bạc hữu nghị đã đạt được các thoả thuận sau đây:
I- TỔ CHỨC VẬN TẢI
Khoản 1: Số đội tàu và thời gian chạy giữa các ga biên giới quy định ở phụ kiện 2. Biện pháp chạy tàu giữa các ga biên giới quy định ở phụ kiện 3 (trong thời gian quá độ làm theo quy định ở phụ kiện 13).
Khoản 2: Trọng lượng và chiều dài đoàn tàu giữa các ga biên giới được quy định như sau:
1- Trọng lượng đoàn tàu khách do một đầu máy DF4B kéo giữa Ga Đồng Đăng và ga Bằng Tường là 750 tấn, chiều dài không quá 48 trục.
Việc lập tàu sẽ quy định trong biên bản hội nghị giờ tàu khách quốc tế.
2- Trọng lượng tàu hàng do một đầu máy DF4B kéo giữa ga Đồng Đăng và ga Bằng Tường là 800 tấn, chiều dài của chiều xuống (Bằng Tường - Đồng Đăng) không quá 80 trục; chiều lên (Đồng Đăng - Bằng Tường) không quá 60 trục.
3- Trọng lượng tàu hàng giữa ga Sơn Yêu và ga Lào Cai do một đầu máy TY kéo là 200 tấn, do 2 đầu máy TY kéo là 400 tấn, hoặc một đầu máy D5H kéo là 370 tấn, chiều dài đoàn tàu không được quá 80 trục.
4- Khi đoàn tàu hàng có chiều dài vượt quá quy định hoặc trọng lượng vượt quá 3% theo quy định thì phải được trưởng ga biên giới hai bên đồng ý mới được cho tàu chạy.
Khoản 3: Công việc dồn xe
1- Trong thời gian đầu máy dừng theo quy định trong biểu đồ chạy tàu, sau khi được ga biên giới của đường sắt có đầu máy đồng ý, có thể dùng đầu máy kéo tàu của phía bên kia để tiến hành dồn xe ở ga biên giới và khi dồn thì phải thực hiện theo quy chương trong nước của nước đó. Phía đường sắt sử dụng sẽ chịu tiền phí tổn sử dụng đầu máy.
2- Khi sử dụng đầu máy của phía bên kia để dồn, ở ga biên giới phải điền vào biểu mẫu quy định của việc dồn xe (phụ kiện số 4). Trực ban ga điền thành 4 bản, mỗi bên giữ 2 bản để dùng làm căn cứ thanh toán phí tổn. Thời gian dùng đầu máy để dồn, tính từ lúc đầu máy rời vị trí đỗ ban đầu đến khi trở lại đỗ tại vị trí đó.
Khoản 4: Điều kiện kỹ thuật lập tàu.
1- Những toa xe chở hàng cần cách ly phải được cách ly theo quy định của bảng cách ly lập tàu giữa các ga biên giới (phụ kiện số 5: 5.1 và 5.2).
2- Số lượng toa xe đóng hãm tự động nối liền nhau trong đoàn tầu không được phép vượt quá 2 toa. Sau đầu máy khổ đường 1435 mm phải nối ít nhất 3 toa xe có hãm tốt, sau đầu máy khổ đường 1000 mm phải nối ít nhất 2 toa xe có hãm tốt. Riêng ở phần cuối đoàn tầu không được quá 1 toa đóng hãm liền trước toa trưởng tàu.
Trong mọi trường hợp đều phải bảo đảm áp lực hãm cần thiết quy định ở phụ kiện 2.1 và 2.2.
3- Khi thử lượng xì hở gió của đoàn xe trong một phút quy định như sau:
Đoàn tàu chạy giữa ga Đồng Đăng và ga Bằng Tường, do đầu máy phía Trung Quốc kéo không được quá 0,2kgf/cm2, đoàn tàu hàng chạy giữa ga Lào Cai và ga Sơn Yêu do đầu máy phía Việt Nam kéo không được vượt quá 0,5kgf/cm2. Nhưng doàn tàu chạy từ ga Lào Cai có toa xe đi quá ga Sơn Yêu không được vượt quá 0,2kgf/cm2.
Khoản 5: Cục Liễu Châu, Cục Thành Đô đường sắt Trung Quốc và xí nghiệp Liên hợp vận tải đường sát khu vực I đường sắt Việt Nam và trưởng ga biên giới hai bên theo thời gian quy định dưới đây thông báo cho nhau:
1- Cục Liễu Châu, Cục thành Đô đường sát Trung Quốc và xí nghiệp Liên hợp vận tải đường sắt khu vực I đường sắt Việt Nam theo giờ thông thoại quy định hàng ngày trao đổi tình hình công tác đường sắt biên giới và thương lượng giải quyết các vấn đề tồn tại.
2- Trưởng ga biên giới hai bên:
Hàng ngày vào 16 giờ 30 - giờ Hà Nội (17 giờ 30 - giờ Bắc Kinh) trao đổi kế hoạch chạy tàu ngày hôm sau về nội dung: số lượng đôi tàu, số hiệu tàu, số hiệu đầu máy, loại toa xe, số lượng toa nặng, toa rỗng, hàng quá khổ giới hạn và những điều cần chú ý liên quan đến an toàn chạy tàu.
Hàng ngày vào 4 giờ 30 giờ Hà Nội (5 giờ 30 giờ Bắc Kinh) cùng nhau điều chỉnh kế hoạch chạy tàu từ 6 giờ 00 đến 18 giờ 00.
Kế hoạch ngày, ban, sau khi hai bên đã trao đổi, xác dịnh, không được tuỳ ý thay đổi mà phải có biện pháp chạy tàu đúng theo biểu đồ chạy tàu.
30 phút trước khi tàu xuất phát, căn cứ thứ tự lập tàu tiến hành xác báo loại toa xe, số hiệu toa xe, số lượng toa xe, xe rỗng, xe nặng, tên hàng, ga đến, loại đầu máy, số hiệu đầu máy phụ đẩy và hàng quá khổ giới hạn.
Phương thức truyền xác báo: ở ga biên giới hai bên lắp đặt máy fax phù hợp kiến nghị G3 của CCITT (Uỷ ban tư vấn điện thoại, điện báo quốc tế) theo nội dung của biểu thứ tự lập tàu tiến hành truyền fax.
Khoản 6: Giao tiếp toa xe
1- Thủ tục giao tiếp toa xe tiến hành trên đường đón gửi. Trong thời gian quy định kiểm tra kỹ thuật, bên bàn giao phải gặp bên tiếp nhận để cùng nhau xác nhận trạng thái kỹ thuật toa xe.
Đối với những toà xe hàng làm mới hoặc cải tạo được nhập vào đường sắt Việt Nam mà tự bánh nó chạy được, chỉ làm thủ tục giao tiếp hàng hoá mà không làm thủ tục giao tiếp toa xe.
2- Toa xe bàn giao phải phù hợp với điều kiện kỹ thuật giao tiếp toa xe hàng đã quy định (toa xe khổ đường 1435 mm là phụ kiện 6.1, toa xe khổ đường 1000 mm là phụ kiện 6.2).
Đối với những toa xe đã bị sự cố, bên bàn giao phải dùng điện thoại hoặc giấy tờ thông báo cho bên tiếp nhận biết về trạng thái rỗng, nặng, trạng thái hư hỏng và phương pháp cứu chữa lúc toa xe xảy ra sự cố.
3- Trong khi giao tiếp, nếu phát hiện trạng thái kỹ thuật toa xe không tốt, bên bàn giao phải sửa chữa. Trường hợp bên bàn giao không sửa chữa được mà uỷ thác cho bên tiếp nhận sửa chữa hoặc giao toa xe cho bên có toa xe, thì bên tiếp nhận phải lập biên bản (phụ kiện 7) viết thành 4 bản giống nhau, mỗi bên giữ 2 bản. Tiền phí tổn sửa chữa tính theo "Bảng đơn giá sửa chữa toa xe khách, toa xe hàng trong liên vận quốc tế" tại phụ kiện 16 (điều 12, 18) của "Quy tắc sử dụng toa xe trong liên vận quốc tế" do bên có trách nhiệm chịu. Đối với các phụ tùng toa xe chưa có trong phụ kiện 16, đường sắt Việt Nam và đường sắt Trung Quốc thông báo cho nhau mục lục đơn giá làm căn cứ thanh toán.
Khi kiểm tra, sửa chữa toa xe trên đường trong ga phải có tín hiệu phòng vệ kèm "thiết bị làm trật bánh" đặt bên trên ray trái của hướng có tàu đến ở hai đầu đoàn tầu. Khoảng cách phòng vệ này cách đầu trước và sau không được dưới 20 mét. Thiết bị làm trật bánh do đường sắt sở tại cung cấp.
4- Đối với toa xe không thuộc đường sắt mình mà trạng thái kỹ thuật không tốt nhưng không nguy hại tới an toàn chạy tầu thì có thể lập biểu đăng ký toa xe không tốt (phụ kiện 8) rồi tiếp nhận. Đợi khi toa xe quay về, kèm theo biểu đăng ký vào giấy giao tiếp toa xe rồi trả lại cho đường sắt có toa xe.
5- Để quay vòng toa xe nhanh, thời gian quay vòng toa xe ở đường sắt bên kia với toa xe khổ đường 1435 mm 5 ngày, toa xe khổ đường 1000 mm 6 ngày.
A) Phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1435 mm dừng ở đường sắt phía bên kia.
+ Từ 01 đến 07 ngày: 11,50 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 08 đến 14 ngày: 17,25 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 15 ngày trở lên: 34,50 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
B) Phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1000 mm dừng ở đường sắt phía bên kia: tính theo 82% phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1435 mm:
+ Từ 01 đến 07 ngày: 9,430 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 08 đến 14 ngày: 14,145 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 15 ngày trở lên: 28,290 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày.
Khi kinh phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1435 mm theo PPV điều chỉnh thì phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1000 mm cũng điều chỉnh kịp thời theo tỷ lệ trên.
6- Trưởng ga biên giới hai bên phải chỉ định người chuyên trách lập báo cáo giao tiếp toa xe (phụ kiện 9) và hàng ngày đối chiếu ký nhận với nhau.
94
http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/nghi-dinh-thu-ve-hoi-nghi-duong-sat-bien-gioi.132930.html
NGHỊ ĐỊNH THƯ
HỘI NGHỊ ĐƯỜNG SẮT BIÊN GIỚI GIỮA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ BỘ ĐƯỜNG SẮT NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA LẦN THỨ 21
- Căn cứ "Hiệp định đường sắt biên giới" giữa Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ đường sắt nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ký ngày 8-3-1992 tại Bắc Kinh, Hội nghị đường sắt biên giới giữa Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ đường sắt nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lần thứ 21 đã họp tại Hà nội từ ngày 29-1 đến ngày 02-2-1996.
Tham dự Hội nghị có:
Hai đoàn đại biểu đường sắt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (danh sách 2 đoàn xem ở phụ kiện số 1). Đại biểu hai bên qua bàn bạc hữu nghị đã đạt được các thoả thuận sau đây:
I- TỔ CHỨC VẬN TẢI
Khoản 1: Số đội tàu và thời gian chạy giữa các ga biên giới quy định ở phụ kiện 2. Biện pháp chạy tàu giữa các ga biên giới quy định ở phụ kiện 3 (trong thời gian quá độ làm theo quy định ở phụ kiện 13).
Khoản 2: Trọng lượng và chiều dài đoàn tàu giữa các ga biên giới được quy định như sau:
1- Trọng lượng đoàn tàu khách do một đầu máy DF4B kéo giữa Ga Đồng Đăng và ga Bằng Tường là 750 tấn, chiều dài không quá 48 trục.
Việc lập tàu sẽ quy định trong biên bản hội nghị giờ tàu khách quốc tế.
2- Trọng lượng tàu hàng do một đầu máy DF4B kéo giữa ga Đồng Đăng và ga Bằng Tường là 800 tấn, chiều dài của chiều xuống (Bằng Tường - Đồng Đăng) không quá 80 trục; chiều lên (Đồng Đăng - Bằng Tường) không quá 60 trục.
3- Trọng lượng tàu hàng giữa ga Sơn Yêu và ga Lào Cai do một đầu máy TY kéo là 200 tấn, do 2 đầu máy TY kéo là 400 tấn, hoặc một đầu máy D5H kéo là 370 tấn, chiều dài đoàn tàu không được quá 80 trục.
4- Khi đoàn tàu hàng có chiều dài vượt quá quy định hoặc trọng lượng vượt quá 3% theo quy định thì phải được trưởng ga biên giới hai bên đồng ý mới được cho tàu chạy.
Khoản 3: Công việc dồn xe
1- Trong thời gian đầu máy dừng theo quy định trong biểu đồ chạy tàu, sau khi được ga biên giới của đường sắt có đầu máy đồng ý, có thể dùng đầu máy kéo tàu của phía bên kia để tiến hành dồn xe ở ga biên giới và khi dồn thì phải thực hiện theo quy chương trong nước của nước đó. Phía đường sắt sử dụng sẽ chịu tiền phí tổn sử dụng đầu máy.
2- Khi sử dụng đầu máy của phía bên kia để dồn, ở ga biên giới phải điền vào biểu mẫu quy định của việc dồn xe (phụ kiện số 4). Trực ban ga điền thành 4 bản, mỗi bên giữ 2 bản để dùng làm căn cứ thanh toán phí tổn. Thời gian dùng đầu máy để dồn, tính từ lúc đầu máy rời vị trí đỗ ban đầu đến khi trở lại đỗ tại vị trí đó.
Khoản 4: Điều kiện kỹ thuật lập tàu.
1- Những toa xe chở hàng cần cách ly phải được cách ly theo quy định của bảng cách ly lập tàu giữa các ga biên giới (phụ kiện số 5: 5.1 và 5.2).
2- Số lượng toa xe đóng hãm tự động nối liền nhau trong đoàn tầu không được phép vượt quá 2 toa. Sau đầu máy khổ đường 1435 mm phải nối ít nhất 3 toa xe có hãm tốt, sau đầu máy khổ đường 1000 mm phải nối ít nhất 2 toa xe có hãm tốt. Riêng ở phần cuối đoàn tầu không được quá 1 toa đóng hãm liền trước toa trưởng tàu.
Trong mọi trường hợp đều phải bảo đảm áp lực hãm cần thiết quy định ở phụ kiện 2.1 và 2.2.
3- Khi thử lượng xì hở gió của đoàn xe trong một phút quy định như sau:
Đoàn tàu chạy giữa ga Đồng Đăng và ga Bằng Tường, do đầu máy phía Trung Quốc kéo không được quá 0,2kgf/cm2, đoàn tàu hàng chạy giữa ga Lào Cai và ga Sơn Yêu do đầu máy phía Việt Nam kéo không được vượt quá 0,5kgf/cm2. Nhưng doàn tàu chạy từ ga Lào Cai có toa xe đi quá ga Sơn Yêu không được vượt quá 0,2kgf/cm2.
Khoản 5: Cục Liễu Châu, Cục Thành Đô đường sắt Trung Quốc và xí nghiệp Liên hợp vận tải đường sát khu vực I đường sắt Việt Nam và trưởng ga biên giới hai bên theo thời gian quy định dưới đây thông báo cho nhau:
1- Cục Liễu Châu, Cục thành Đô đường sát Trung Quốc và xí nghiệp Liên hợp vận tải đường sắt khu vực I đường sắt Việt Nam theo giờ thông thoại quy định hàng ngày trao đổi tình hình công tác đường sắt biên giới và thương lượng giải quyết các vấn đề tồn tại.
2- Trưởng ga biên giới hai bên:
Hàng ngày vào 16 giờ 30 - giờ Hà Nội (17 giờ 30 - giờ Bắc Kinh) trao đổi kế hoạch chạy tàu ngày hôm sau về nội dung: số lượng đôi tàu, số hiệu tàu, số hiệu đầu máy, loại toa xe, số lượng toa nặng, toa rỗng, hàng quá khổ giới hạn và những điều cần chú ý liên quan đến an toàn chạy tàu.
Hàng ngày vào 4 giờ 30 giờ Hà Nội (5 giờ 30 giờ Bắc Kinh) cùng nhau điều chỉnh kế hoạch chạy tàu từ 6 giờ 00 đến 18 giờ 00.
Kế hoạch ngày, ban, sau khi hai bên đã trao đổi, xác dịnh, không được tuỳ ý thay đổi mà phải có biện pháp chạy tàu đúng theo biểu đồ chạy tàu.
30 phút trước khi tàu xuất phát, căn cứ thứ tự lập tàu tiến hành xác báo loại toa xe, số hiệu toa xe, số lượng toa xe, xe rỗng, xe nặng, tên hàng, ga đến, loại đầu máy, số hiệu đầu máy phụ đẩy và hàng quá khổ giới hạn.
Phương thức truyền xác báo: ở ga biên giới hai bên lắp đặt máy fax phù hợp kiến nghị G3 của CCITT (Uỷ ban tư vấn điện thoại, điện báo quốc tế) theo nội dung của biểu thứ tự lập tàu tiến hành truyền fax.
Khoản 6: Giao tiếp toa xe
1- Thủ tục giao tiếp toa xe tiến hành trên đường đón gửi. Trong thời gian quy định kiểm tra kỹ thuật, bên bàn giao phải gặp bên tiếp nhận để cùng nhau xác nhận trạng thái kỹ thuật toa xe.
Đối với những toà xe hàng làm mới hoặc cải tạo được nhập vào đường sắt Việt Nam mà tự bánh nó chạy được, chỉ làm thủ tục giao tiếp hàng hoá mà không làm thủ tục giao tiếp toa xe.
2- Toa xe bàn giao phải phù hợp với điều kiện kỹ thuật giao tiếp toa xe hàng đã quy định (toa xe khổ đường 1435 mm là phụ kiện 6.1, toa xe khổ đường 1000 mm là phụ kiện 6.2).
Đối với những toa xe đã bị sự cố, bên bàn giao phải dùng điện thoại hoặc giấy tờ thông báo cho bên tiếp nhận biết về trạng thái rỗng, nặng, trạng thái hư hỏng và phương pháp cứu chữa lúc toa xe xảy ra sự cố.
3- Trong khi giao tiếp, nếu phát hiện trạng thái kỹ thuật toa xe không tốt, bên bàn giao phải sửa chữa. Trường hợp bên bàn giao không sửa chữa được mà uỷ thác cho bên tiếp nhận sửa chữa hoặc giao toa xe cho bên có toa xe, thì bên tiếp nhận phải lập biên bản (phụ kiện 7) viết thành 4 bản giống nhau, mỗi bên giữ 2 bản. Tiền phí tổn sửa chữa tính theo "Bảng đơn giá sửa chữa toa xe khách, toa xe hàng trong liên vận quốc tế" tại phụ kiện 16 (điều 12, 18) của "Quy tắc sử dụng toa xe trong liên vận quốc tế" do bên có trách nhiệm chịu. Đối với các phụ tùng toa xe chưa có trong phụ kiện 16, đường sắt Việt Nam và đường sắt Trung Quốc thông báo cho nhau mục lục đơn giá làm căn cứ thanh toán.
Khi kiểm tra, sửa chữa toa xe trên đường trong ga phải có tín hiệu phòng vệ kèm "thiết bị làm trật bánh" đặt bên trên ray trái của hướng có tàu đến ở hai đầu đoàn tầu. Khoảng cách phòng vệ này cách đầu trước và sau không được dưới 20 mét. Thiết bị làm trật bánh do đường sắt sở tại cung cấp.
4- Đối với toa xe không thuộc đường sắt mình mà trạng thái kỹ thuật không tốt nhưng không nguy hại tới an toàn chạy tầu thì có thể lập biểu đăng ký toa xe không tốt (phụ kiện 8) rồi tiếp nhận. Đợi khi toa xe quay về, kèm theo biểu đăng ký vào giấy giao tiếp toa xe rồi trả lại cho đường sắt có toa xe.
5- Để quay vòng toa xe nhanh, thời gian quay vòng toa xe ở đường sắt bên kia với toa xe khổ đường 1435 mm 5 ngày, toa xe khổ đường 1000 mm 6 ngày.
A) Phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1435 mm dừng ở đường sắt phía bên kia.
+ Từ 01 đến 07 ngày: 11,50 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 08 đến 14 ngày: 17,25 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 15 ngày trở lên: 34,50 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
B) Phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1000 mm dừng ở đường sắt phía bên kia: tính theo 82% phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1435 mm:
+ Từ 01 đến 07 ngày: 9,430 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 08 đến 14 ngày: 14,145 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày
+ Từ 15 ngày trở lên: 28,290 Franc Thuỵ Sĩ/một xe ngày.
Khi kinh phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1435 mm theo PPV điều chỉnh thì phí sử dụng toa xe hàng khổ đường 1000 mm cũng điều chỉnh kịp thời theo tỷ lệ trên.
6- Trưởng ga biên giới hai bên phải chỉ định người chuyên trách lập báo cáo giao tiếp toa xe (phụ kiện 9) và hàng ngày đối chiếu ký nhận với nhau.