CADer
04-09-2010, 10:53 PM
Đây là loạt phóng sự của các phóng viên báo Lào Cai Viết về việc tìm lại hành trình của Bác Hồ khi người lên thăm tỉnh Lào Cai vào năm 1958 bắt đầu từ ga Làng Giàng. Trong đó đề cập nhiều tới lịch sử đoạn đường sắt từ ga Làng Giàng đến cầu Hồ Kiều và lịch sử hình thành cùng quá trình phát triển của phương thức vận chuyển quặng bằng đường sắt của mỏ Apatit Lào Cai.
Loạt phóng sự này được thực hiện vào năm 2007 nhân kỷ niệm 100 năm Lào Cai nó mang nhiều tính khảo cứu lên xin phép post lên đây để anh em tham khảo. (Một số ảnh trong các bài dưới đây có thể không nằm trong phóng sự gốc mà được CADer chèn vào từ nguồn khác.)
TÌM LẠI HÀNH TRÌNH BÁC HỒ LÊN THĂM LÀO CAI
LCĐT - Đúng vào những ngày đoàn tàu hoả đưa Bác Hồ và phái đoàn Chính phủ lên thăm Lào Cai cách đây 49 năm, đoàn cán bộ, phóng viên báo Lào Cai tìm lại hành trình theo những địa chỉ Bác đến thăm. Cảnh sắc do thời gian đã làm thay đổi nhiều, nhưng dấu ấn khi gặp các nhân chứng lịch sử, các dấu tích còn lại trên hành trình Bác đã đến, giúp chúng tôi cảm nhận những cảm xúc về ngày thu đặc biệt xưa.
Kỳ I: TỪ LÀNG GIÀNG TÌM LẠI CON ĐƯỜNG VÀO MỎ
Trời trong xanh, hôm trước do ảnh hưởng của bão số 4, trận mưa rào còn để lại những vũng nước lầy lội dọc đường, rẽ trái từ cuối Đại lộ Trần Hưng Đạo, theo đường nhỏ chúng tôi ra bến khai thác cát ven bờ sông Hồng phía dưới mố cầu Làng Giàng cũ, nay thuộc phường Xuân Tăng để lên thuyền sang sông.
Ga Làng Giàng nay đã được nâng cấp, nhưng 3 tuyến đường ray thì vẫn gần như trên vị trí cũ, cầu Làng Giàng không còn, cây cầu đã từng gánh trên vai hàng triệu tấn quặng apatít bị đánh sập cách đây 28 năm do chiến tranh biên giới làm cho ga kém đi phần đông vui nhộn nhịp.
Đường sắt từ trạm gác ghi phía bắc rẽ ra cầu Làng Giàng vào mỏ xưa kia chỉ còn dấu tích nền đường, nhà dân và hai hàng cây nhãn cổ thụ trồng mấy chục năm sau này khi đường sắt dỡ bỏ đã giúp lưu giữ lại chứng tích.
Ga Làng Giàng ban đầu được xây dựng cách đây trên 100 năm, khi đó người Pháp làm đường sắt Yên Bái - Lào Cai theo kiểu cuốn chiếu. Vạch tuyến, mở đường đất, làm cống rãnh, sau cùng mới đổ đá đặt ray. Đường vươn dài tới đâu, sử dụng ngay đến đó để làm đoạn tiếp theo.
Chuyện kể rằng, khi đi khảo sát tuyến, kỹ sư người Pháp đã nghỉ tại nhà dân bản xứ, nằm trên tấm phản mới mùi gỗ ngai ngái, ông ta hỏi người thông dịch “gỗ gì, có độc không?” Sau khi nghe chủ nhà giải thích là gỗ "giàng giàng" và nghe dịch lại, người kỹ sư ghi và khoanh chấm hoa thị vào tấm bản đồ, sau này trở thành tên ga. Đất trời Làng Giàng có gì đó rất khó đặc tả, sáng đón bình minh muộn hơn, chiều hưởng ánh hoàng hôn thời gian như lâu hơn. Thuở trước khi vào thăm bạn ở trường Thanh niên dân tộc tỉnh lúc đó đóng tại Làng Giàng, cũng đã có lần tôi được nghe kể chuyện đó và tranh luận mãi.
Hôm nay chúng tôi lách rào qua các vườn, lần tìm theo dấu tích con đường gần 50 năm trước Bác Hồ từ ga đi thăm khu nhà ăn, nhà nghỉ của đội cầu Trần Tử Bình nổi tiếng một thời và xuống phà sang Cửa Ngòi phía đầu cầu bên này.
Anh thanh niên tên là Vinh đưa thuyền gắn máy dẫn chúng tôi thăm hai bên mố cầu còn sót lại, chiếc trụ cầu bị đánh gục nhô lên mặt sông chừng một mét. Mặt sông mùa này nước chảy xuôi như hiền hoà hơn, nắng sớm chiếu trên mặt nước ánh bạc lên trước mũi thuyền. Theo lời giới thiệu của Vinh, chúng tôi lên nhà cụ Đĩnh 86 tuổi, thuộc tổ 4, phường Xuân Tăng, ở gò sát sông Hồng, đối diện bên kia sông là ga Làng Giàng. Cụ nói quê gốc Phú Thọ, đã ở mảnh đất này từ khi mới 2 tuổi thời Pháp thuộc, cụ có 4 con đi bộ đội, trong số đó có một người đã hy sinh.
Cụ kể: Cây vối to bên bờ sông cụ trồng cách đây hơn 60 năm, năm nay bán nụ vối cũng được nửa triệu đồng. Hồi đó cây vối đã to, bà con đứng vây quanh gốc vối này trong đó có cả mấy anh bộ đội và công an về nhà cụ từ sáng sớm ngắm chiếc phà đưa Bác và đoàn cùng đi sang sông. Là người nông dân vì đói kém phải rời quê lên từ nhỏ, biết thế nào là giặc Pháp càn, thổ phỉ tràn qua và bọn lính Tàu Tưởng cướp phá. Được hưởng độc lập mới mấy năm mà đời sống dân vùng này sướng hẳn lên. Đứng ở đây chỉ được ngắm nhìn Bác và phái đoàn Chính phủ từ xa, nhưng trong tâm tưởng cụ và gia đình luôn tin vào Việt Minh, ơn Cụ Hồ. Chồng cụ là bộ đội, các con cụ lớn lên lần lượt vào bộ đội, cả tỉnh này nhiều nhà cũng tham gia như vậy.
Những tấm bằng khen, bằng chứng nhận gia đình văn hoá treo trên tường ghi nhận gia đình cụ nhiều năm liên tục đạt danh hiệu gia đình văn hoá, những gia đình giàu truyền thống cách mạng thường gặp ở mỗi làng quê.
Bên này sông, chúng tôi tới trụ cầu Làng Giàng còn sót lại nằm sau nhà cụ Hợi, thuộc tổ 8 phường Bình Minh. Nhà cụ và 2 nhà khác nằm đúng trên khu đường sắt đầu cầu xưa. Cụ chỉ khu vườn cây và các công trình phụ của gia đình là nằm trên đường sắt đã được dỡ bỏ những năm sau chiến tranh biên giới, phía hông nhà là đường đi Xuân Tăng có cột điện cao thế, trước đây vị trí đó là nơi buộc dây cáp căng qua sông nối với bên Làng Giàng để kéo phà bằng tay chở quặng.
Bây giờ đây mọi dấu tích xưa còn lại không nhiều, nhưng vẫn là điểm nhớ về một thời những dân phu bị Pháp - Nhật vắt kiệt sức bên máng quặng, phồng tay kéo phà sang sông, rồi nghe như vang vọng quanh đây khí thế lao động hăng say xây dựng xã hội chủ nghĩa của lớp công nhân dưới chế độ mới, phấn đấu thông cầu Làng Giàng trước thời hạn. Bao giờ mới bắc lại cây cầu Làng Giàng như xưa? Những người già cũng như trẻ tôi gặp đều chung câu hỏi khi biết chúng tôi là nhà báo đang tìm lại dấu tích về cây cầu và chuyến lên thăm Mỏ Apatít Cam Đường của Bác Hồ giữa thế kỷ trước.
Tìm lại lịch sử, năm 1924, sau khi phát hiện và xác định quặng apatít ngẫu nhiên qua việc cha con ông Trần Văn Nỏ, dân tộc Tày người làng Hẻo, Cam Đường khi đi rừng bắc bếp bằng những cục đá đun phát ra tia lửa xanh kỳ lạ. Nhận tin báo từ viên Công sứ tỉnh trưởng Lào Cai, Toàn quyền Đông Dương đã chỉ đạo tới 11 đoàn khảo sát thăm dò, 10 năm sau vào năm 1934 bản đồ trữ lượng apatít ở mỏ Cam Đường được công bố.
http://www.baolaocai.vn/UserFiles/Image/2009/T3/9/cu-no.jpg
Ông Trần Văn Nỏ, người có công phát hiện ra quặng Apatít, thay mặt đồng bào địa phương gửi biếu Bác Hồ tấm khăn dân tộc. Ảnh: TL
Sau đó cuộc tuyển mộ phu được giao cho chủ thầu người Việt Vũ Văn Đức. Nhân năm đồng bằng Bắc Bộ vỡ đê, đói kém, chủ thầu khét tiếng này đã huy động nhanh chóng hàng trăm nông dân các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Sơn Tây lũ lượt lên làm phu khai thác mỏ. Ban đầu việc chở quặng rất gian truân, phải theo đường 109 Cam Đường - Lào Cai mới mở ( sau này là đường 4 E), tập kết quặng tại ga Lào Cai và chở xuôi.
Từ năm 1940, nhu cầu lớn hơn, được đầu tư, mỏ hình thành 3 khu khai thác làng Mô, Cam Đường, mỏ Cóc. Con đường vận chuyển quặng từ làng Hẻo ra bến sông gọi là Cửa Ngòi được mở. Việc vận chuyển quặng bằng goòng ra bến sông, đổ vào vơ - re - my giống như cái máng rót quặng từ trên bờ cao xuống phà. Công sức của trên 300 công nhân, phu phen đào quặng, bốc vác thủ công vận chuyển gần chục cây số, mồ hôi quyện thấm vào từng cân quặng đổ lên tàu hoả rôi lại bốc xuống tàu thuỷ ở Hải Phòng, chuyển về chính quốc làm giàu cho thực dân Pháp.
Sau đó, tuyến đường goòng dài 8 km từ Cửa Ngòi - ga Gốc Đa hoàn thành, việc vận chuyển quặng nhanh hơn. Theo báo cáo của viên Công sứ Lào Cai, trong 4 năm (1939 - 1942) khai thác được 250 nghìn tấn quặng tốt và xuất khẩu 152 nghìn tấn. Năm 1941, sau khi chiếm đóng vùng mỏ, Nhật nâng cấp tuyến đường goòng, các toa chở quặng bằng toa đĩa và kéo bằng đầu máy hơi nước, họ còn định khôi phục lại việc khai thác mỏ đồng làng Nhớn, làng Phời trước đây bị bỏ dở.
Từ năm 1944, chiến tranh ác liệt, mỏ và cáp tời kéo phà chở quặng sang ga Làng Giàng do người Nhật thầu đã bị máy bay Mỹ ném bom tàn phá, mỏ tạm đóng cửa, mãi tới năm 1955, sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ta mới khôi phục lại việc khai thác Mỏ Apatít Cam Đường. Dọc đường từ Cửa Ngòi về cầu Làng Chiềng, tôi cứ lang mang nghĩ mãi về tư liệu lịch sử nói về trận lũ ống năm 1941 cuốn trôi cả tốp thợ mấy chục người làm cầu và bao người dân phu gục ngã bên đường tàu. Buổi chiều, chúng tôi tìm đến ga Gốc Đa, nơi trước đây là khu tập kết quặng sau khi khai thác để rồi bốc đổ vào vơ - re - my, rót xuống toa xe goòng để chở ra bến phà Làng Giàng.
Năm 1958, khi Bác và phái đoàn Chính phủ lên thăm mỏ, cũng là dịp mỏ đang bước sang thời kỳ quản lý sản xuất kinh doanh mới xã hội chủ nghĩa sau 3 năm khôi phục. Tàu dừng ở gần ga Gốc Đa, Bác và phái đoàn xuống tàu vào thăm văn phòng mỏ và khu ở của chuyên gia Xô Viết, khai trường mỏ Cóc và đội máy xúc RYI - 1m3, trước khi đến gặp công nhân và đồng bào tại Sân vận động cạnh Văn phòng mỏ. Giờ đây chỉ những công nhân ngày trước hoặc những người dân cao tuổi ở làng Dạ, làng Hẻo, làng Pèng mới biết về ga Gốc Đa.
Loạt phóng sự này được thực hiện vào năm 2007 nhân kỷ niệm 100 năm Lào Cai nó mang nhiều tính khảo cứu lên xin phép post lên đây để anh em tham khảo. (Một số ảnh trong các bài dưới đây có thể không nằm trong phóng sự gốc mà được CADer chèn vào từ nguồn khác.)
TÌM LẠI HÀNH TRÌNH BÁC HỒ LÊN THĂM LÀO CAI
LCĐT - Đúng vào những ngày đoàn tàu hoả đưa Bác Hồ và phái đoàn Chính phủ lên thăm Lào Cai cách đây 49 năm, đoàn cán bộ, phóng viên báo Lào Cai tìm lại hành trình theo những địa chỉ Bác đến thăm. Cảnh sắc do thời gian đã làm thay đổi nhiều, nhưng dấu ấn khi gặp các nhân chứng lịch sử, các dấu tích còn lại trên hành trình Bác đã đến, giúp chúng tôi cảm nhận những cảm xúc về ngày thu đặc biệt xưa.
Kỳ I: TỪ LÀNG GIÀNG TÌM LẠI CON ĐƯỜNG VÀO MỎ
Trời trong xanh, hôm trước do ảnh hưởng của bão số 4, trận mưa rào còn để lại những vũng nước lầy lội dọc đường, rẽ trái từ cuối Đại lộ Trần Hưng Đạo, theo đường nhỏ chúng tôi ra bến khai thác cát ven bờ sông Hồng phía dưới mố cầu Làng Giàng cũ, nay thuộc phường Xuân Tăng để lên thuyền sang sông.
Ga Làng Giàng nay đã được nâng cấp, nhưng 3 tuyến đường ray thì vẫn gần như trên vị trí cũ, cầu Làng Giàng không còn, cây cầu đã từng gánh trên vai hàng triệu tấn quặng apatít bị đánh sập cách đây 28 năm do chiến tranh biên giới làm cho ga kém đi phần đông vui nhộn nhịp.
Đường sắt từ trạm gác ghi phía bắc rẽ ra cầu Làng Giàng vào mỏ xưa kia chỉ còn dấu tích nền đường, nhà dân và hai hàng cây nhãn cổ thụ trồng mấy chục năm sau này khi đường sắt dỡ bỏ đã giúp lưu giữ lại chứng tích.
Ga Làng Giàng ban đầu được xây dựng cách đây trên 100 năm, khi đó người Pháp làm đường sắt Yên Bái - Lào Cai theo kiểu cuốn chiếu. Vạch tuyến, mở đường đất, làm cống rãnh, sau cùng mới đổ đá đặt ray. Đường vươn dài tới đâu, sử dụng ngay đến đó để làm đoạn tiếp theo.
Chuyện kể rằng, khi đi khảo sát tuyến, kỹ sư người Pháp đã nghỉ tại nhà dân bản xứ, nằm trên tấm phản mới mùi gỗ ngai ngái, ông ta hỏi người thông dịch “gỗ gì, có độc không?” Sau khi nghe chủ nhà giải thích là gỗ "giàng giàng" và nghe dịch lại, người kỹ sư ghi và khoanh chấm hoa thị vào tấm bản đồ, sau này trở thành tên ga. Đất trời Làng Giàng có gì đó rất khó đặc tả, sáng đón bình minh muộn hơn, chiều hưởng ánh hoàng hôn thời gian như lâu hơn. Thuở trước khi vào thăm bạn ở trường Thanh niên dân tộc tỉnh lúc đó đóng tại Làng Giàng, cũng đã có lần tôi được nghe kể chuyện đó và tranh luận mãi.
Hôm nay chúng tôi lách rào qua các vườn, lần tìm theo dấu tích con đường gần 50 năm trước Bác Hồ từ ga đi thăm khu nhà ăn, nhà nghỉ của đội cầu Trần Tử Bình nổi tiếng một thời và xuống phà sang Cửa Ngòi phía đầu cầu bên này.
Anh thanh niên tên là Vinh đưa thuyền gắn máy dẫn chúng tôi thăm hai bên mố cầu còn sót lại, chiếc trụ cầu bị đánh gục nhô lên mặt sông chừng một mét. Mặt sông mùa này nước chảy xuôi như hiền hoà hơn, nắng sớm chiếu trên mặt nước ánh bạc lên trước mũi thuyền. Theo lời giới thiệu của Vinh, chúng tôi lên nhà cụ Đĩnh 86 tuổi, thuộc tổ 4, phường Xuân Tăng, ở gò sát sông Hồng, đối diện bên kia sông là ga Làng Giàng. Cụ nói quê gốc Phú Thọ, đã ở mảnh đất này từ khi mới 2 tuổi thời Pháp thuộc, cụ có 4 con đi bộ đội, trong số đó có một người đã hy sinh.
Cụ kể: Cây vối to bên bờ sông cụ trồng cách đây hơn 60 năm, năm nay bán nụ vối cũng được nửa triệu đồng. Hồi đó cây vối đã to, bà con đứng vây quanh gốc vối này trong đó có cả mấy anh bộ đội và công an về nhà cụ từ sáng sớm ngắm chiếc phà đưa Bác và đoàn cùng đi sang sông. Là người nông dân vì đói kém phải rời quê lên từ nhỏ, biết thế nào là giặc Pháp càn, thổ phỉ tràn qua và bọn lính Tàu Tưởng cướp phá. Được hưởng độc lập mới mấy năm mà đời sống dân vùng này sướng hẳn lên. Đứng ở đây chỉ được ngắm nhìn Bác và phái đoàn Chính phủ từ xa, nhưng trong tâm tưởng cụ và gia đình luôn tin vào Việt Minh, ơn Cụ Hồ. Chồng cụ là bộ đội, các con cụ lớn lên lần lượt vào bộ đội, cả tỉnh này nhiều nhà cũng tham gia như vậy.
Những tấm bằng khen, bằng chứng nhận gia đình văn hoá treo trên tường ghi nhận gia đình cụ nhiều năm liên tục đạt danh hiệu gia đình văn hoá, những gia đình giàu truyền thống cách mạng thường gặp ở mỗi làng quê.
Bên này sông, chúng tôi tới trụ cầu Làng Giàng còn sót lại nằm sau nhà cụ Hợi, thuộc tổ 8 phường Bình Minh. Nhà cụ và 2 nhà khác nằm đúng trên khu đường sắt đầu cầu xưa. Cụ chỉ khu vườn cây và các công trình phụ của gia đình là nằm trên đường sắt đã được dỡ bỏ những năm sau chiến tranh biên giới, phía hông nhà là đường đi Xuân Tăng có cột điện cao thế, trước đây vị trí đó là nơi buộc dây cáp căng qua sông nối với bên Làng Giàng để kéo phà bằng tay chở quặng.
Bây giờ đây mọi dấu tích xưa còn lại không nhiều, nhưng vẫn là điểm nhớ về một thời những dân phu bị Pháp - Nhật vắt kiệt sức bên máng quặng, phồng tay kéo phà sang sông, rồi nghe như vang vọng quanh đây khí thế lao động hăng say xây dựng xã hội chủ nghĩa của lớp công nhân dưới chế độ mới, phấn đấu thông cầu Làng Giàng trước thời hạn. Bao giờ mới bắc lại cây cầu Làng Giàng như xưa? Những người già cũng như trẻ tôi gặp đều chung câu hỏi khi biết chúng tôi là nhà báo đang tìm lại dấu tích về cây cầu và chuyến lên thăm Mỏ Apatít Cam Đường của Bác Hồ giữa thế kỷ trước.
Tìm lại lịch sử, năm 1924, sau khi phát hiện và xác định quặng apatít ngẫu nhiên qua việc cha con ông Trần Văn Nỏ, dân tộc Tày người làng Hẻo, Cam Đường khi đi rừng bắc bếp bằng những cục đá đun phát ra tia lửa xanh kỳ lạ. Nhận tin báo từ viên Công sứ tỉnh trưởng Lào Cai, Toàn quyền Đông Dương đã chỉ đạo tới 11 đoàn khảo sát thăm dò, 10 năm sau vào năm 1934 bản đồ trữ lượng apatít ở mỏ Cam Đường được công bố.
http://www.baolaocai.vn/UserFiles/Image/2009/T3/9/cu-no.jpg
Ông Trần Văn Nỏ, người có công phát hiện ra quặng Apatít, thay mặt đồng bào địa phương gửi biếu Bác Hồ tấm khăn dân tộc. Ảnh: TL
Sau đó cuộc tuyển mộ phu được giao cho chủ thầu người Việt Vũ Văn Đức. Nhân năm đồng bằng Bắc Bộ vỡ đê, đói kém, chủ thầu khét tiếng này đã huy động nhanh chóng hàng trăm nông dân các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Sơn Tây lũ lượt lên làm phu khai thác mỏ. Ban đầu việc chở quặng rất gian truân, phải theo đường 109 Cam Đường - Lào Cai mới mở ( sau này là đường 4 E), tập kết quặng tại ga Lào Cai và chở xuôi.
Từ năm 1940, nhu cầu lớn hơn, được đầu tư, mỏ hình thành 3 khu khai thác làng Mô, Cam Đường, mỏ Cóc. Con đường vận chuyển quặng từ làng Hẻo ra bến sông gọi là Cửa Ngòi được mở. Việc vận chuyển quặng bằng goòng ra bến sông, đổ vào vơ - re - my giống như cái máng rót quặng từ trên bờ cao xuống phà. Công sức của trên 300 công nhân, phu phen đào quặng, bốc vác thủ công vận chuyển gần chục cây số, mồ hôi quyện thấm vào từng cân quặng đổ lên tàu hoả rôi lại bốc xuống tàu thuỷ ở Hải Phòng, chuyển về chính quốc làm giàu cho thực dân Pháp.
Sau đó, tuyến đường goòng dài 8 km từ Cửa Ngòi - ga Gốc Đa hoàn thành, việc vận chuyển quặng nhanh hơn. Theo báo cáo của viên Công sứ Lào Cai, trong 4 năm (1939 - 1942) khai thác được 250 nghìn tấn quặng tốt và xuất khẩu 152 nghìn tấn. Năm 1941, sau khi chiếm đóng vùng mỏ, Nhật nâng cấp tuyến đường goòng, các toa chở quặng bằng toa đĩa và kéo bằng đầu máy hơi nước, họ còn định khôi phục lại việc khai thác mỏ đồng làng Nhớn, làng Phời trước đây bị bỏ dở.
Từ năm 1944, chiến tranh ác liệt, mỏ và cáp tời kéo phà chở quặng sang ga Làng Giàng do người Nhật thầu đã bị máy bay Mỹ ném bom tàn phá, mỏ tạm đóng cửa, mãi tới năm 1955, sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ta mới khôi phục lại việc khai thác Mỏ Apatít Cam Đường. Dọc đường từ Cửa Ngòi về cầu Làng Chiềng, tôi cứ lang mang nghĩ mãi về tư liệu lịch sử nói về trận lũ ống năm 1941 cuốn trôi cả tốp thợ mấy chục người làm cầu và bao người dân phu gục ngã bên đường tàu. Buổi chiều, chúng tôi tìm đến ga Gốc Đa, nơi trước đây là khu tập kết quặng sau khi khai thác để rồi bốc đổ vào vơ - re - my, rót xuống toa xe goòng để chở ra bến phà Làng Giàng.
Năm 1958, khi Bác và phái đoàn Chính phủ lên thăm mỏ, cũng là dịp mỏ đang bước sang thời kỳ quản lý sản xuất kinh doanh mới xã hội chủ nghĩa sau 3 năm khôi phục. Tàu dừng ở gần ga Gốc Đa, Bác và phái đoàn xuống tàu vào thăm văn phòng mỏ và khu ở của chuyên gia Xô Viết, khai trường mỏ Cóc và đội máy xúc RYI - 1m3, trước khi đến gặp công nhân và đồng bào tại Sân vận động cạnh Văn phòng mỏ. Giờ đây chỉ những công nhân ngày trước hoặc những người dân cao tuổi ở làng Dạ, làng Hẻo, làng Pèng mới biết về ga Gốc Đa.