sakuraluu
03-20-2010, 10:04 PM
Ngày nay, nhiều ngành Đường sắt đang phải đối mặt với nhu cầu cần thích ứng được với tình hình đang có nhiều sự thay đổi. Cho dù đó là ngành Đường sắt của những Quốc gia tiên tiến có nền công nghệ rất cao hay của những nước đang phát triển mà cơ sở hạ tầng cũng như công việc khai thác đang đòi hỏi phải cải tạo nâng cấp, tất cả đều phải suy tính đến tương lai của mình, bao gồm sự cạnh tranh của tất cả các loại phương tiện vận tải khác, trong khi đó các sự kiện xã hội và kinh tế vẫn không ngừng diễn biến.
Hiệu quả nhanh chóng nhất của những thay đổi trên là sự giảm bớt mạnh mẽ tiêu hao sức lao động và chuyển hướng sang kinh doanh hoá. Đường sắt Việt Nam cũng không là một ngoại lệ. Chừng nào, Đường sắt Việt Nam còn có nhu cầu chạy tầu thì cho dù cơ sở hạ tầng có thể được củng cố tốt và tách khỏi vận doanh vẫn sẽ tồn tại yêu cầu phải duy trì cơ sở hạ tầng theo những chuẩn tắc tối thiểu. Bởi vậy, không kể đến các yêu cầu rộng lớn hơn trong các công việc cải tạo lớn nhằm tạo điều kiện cho việc khai thác có lãi, việc duy tu đường vẫn cần phải được tiếp tục tiến hành.
Tuy yêu cầu duy tu đường đã được xác định, nhưng cách thức tiến hành trong tương lai sẽ phụ thuộc vào điều kiện phát triển xã hội, quy mô sức lao động, trình độ cơ giới hoá và ngân sách có được.
I. Khái quát chung:
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 60, ngành Đường sắt đã đặt vấn đề nghiên cứu cơ giới hoá công tác sửa chữa cơ sở hạ tầng đường sắt, nhưng do chiến tranh và điều kiện máy móc, thiết bị còn thiếu, nên việc nghiên cứu cơ giới hoá chưa được chú ý. Cũng trong thời gian này, Đường sắt Việt Nam đã nhận viện trợ một số máy chèn cầm tay của Hung-ga-ry và đã thành lập đội chèn đường bằng máy ở đoạn cầu đường Hưng Hải. Sau thời gian hoạt động, máy bị hư hỏng, không có phụ tùng thay thế nên đã ngừng hoạt động. Sau đó, Đường sắt Việt Nam tiếp nhận hai đoàn tầu đại tu cơ giới đồng bộ do Cộng hoà dân chủ Đức gửi tặng, đồng thời với tinh thần tự lực ngành Đường sắt đã tự thiết kế, chế tạo các loại máy móc thiết bị chuyên dùng: Máy chèn đường CĐ1, máy đặt và tháo dỡ các cầu ray CT1, CT2...
Đỉnh cao của công tác cơ giới hoá sửa chữa cơ sở hạ tầng đường sắt là lần đầu tiên ngành Đường sắt tổ chức thi công cơ giới đồng bộ tại công trình đại tu toàn diện đường số 1, 2, 3 ga Hà Nội vào tháng 5 năm 1971. Sau ngày thống nhất đất nước, Đường sắt Việt Nam đã tiếp nhận một số máy móc thiết bị của đường sắt Miền Nam như: Máy sàng đá 10CB5 của hãng MATISA - Thuỵ Sĩ, máy uốn nắn mối ray gục, máy nâng, giật, đường, máy chèn đường, máy ban đá.
Từ thực tế sau các đợt chỉnh tu cơ sở hạ tầng để rút ngắn hành trình chạy tầu tuyến đường sắt Hà Nội - Tp. Hồ Chí Minh và các tuyến đường có năng lực thông qua lớn; trên các tuyến đường này hầu hết tà vẹt đã được bê tông hoá, liên kết ray với tà vẹt bằng các bulông nối giữ; công tác chèn đường bằng thủ công khó thực hiện, không còn phù hợp và công tác vặn (xiết) bulông bằng các dụng cụ thông thường không đảm bảo sự đồng đều của lực vặn (xiết). Để giải quyết những khó khăn này, năm 1993 các máy chèn đường loại nhỏ của Trung Quốc XYD-2A và XYD-2B được nhập khẩu và sử dụng trên ĐSVN; đã phát huy có hiệu quả trong công tác sửa chữa đường sắt. Có nhiều máy móc, thiết bị được nhập khẩu từ Cộng hoà Pháp đã đảm đương được rất nhiều công việc trong sửa chữa đường như: vặn xiết bulông TEM1; máy cưa ray MTX; máy khoan ray PR8; máy mài ray MP12; thiết bị uốn, nắn, nâng ray JA40; phun cát tẩy gỉ, phun sơn các dầm cầu thép, thiết bị hàn ray bằng phương pháp hàn ga nén ép, nhiệt nhôm (tất cả đều không phải phong toả khu gian khi thi công). Mua và đóng mới nhiều xe ôtô ray chuyên dùng, xe vận tải lắp cẩu nâng hàng. Đặc biệt ngành đã đầu tư mua mới xe đo, ghi kiểm tra đường MPV 9AB của Matisa - Thuỵ Sĩ và các loại máy móc, thiết bị hiện đại với số vốn đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng.
II. Lựa chọn các dự án đầu tư:
1. Quá trình thực hiện dự án:
Đề cập đến các công việc trong duy tu, sửa chữa đường sắt thì công tác nâng, giật, chèn đường là nặng nhọc và chiếm tỷ trọng chi phí lớn; ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đường sau sửa chữa. Ưu tiên cơ giới hoá công tác này là hướng đi đúng và cần thiết, cơ bản giải quyết được các sai số về thông số hình học, tăng thời gian ổn định tầng trên của tuyến đường.
Với mục tiêu tiến hành cơ giới hoá 100% công tác sửa chữa đường sắt; Đường sắt Việt Nam đang tích cực hoàn tất thủ tục đầu tư các dự án lớn bằng nguồn vốn vay ODA của Cộng hoà Pháp và Cộng hoà Áo lên đến gần 300 tỷ đồng. Như vậy, từ nay đến năm 2010 nguồn kinh phí đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ công tác duy tu, sửa chữa đường sắt là rất lớn; sẽ đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về chất lượng đường khi chạy tầu tốc độ cao, đủ điều kiện nối mạng đường sắt thuộc các nước ASEAN và liên vận Quốc tế.
Có nhiều quan điểm về lựa chọn chủng loại máy móc, thiết bị; tuy nhiên, loại máy 08 - 8GS của Cộng hoà Áo là phù hợp với công nghệ sửa chữa đường sắt Việt Nam. Đường sắt Việt Namđã trình và được Thủ tướng Chính phủ cho phép Đầu tư dự án "Mua sắm máy móc, thiết bị để cơ giới hóa công tác sửa chữa đường sắt". Dự án được triển khai từ năm 1999 và hoàn thành năm 2003. Các máy móc, thiết bị chính thức khai thác trên đường sắt Việt Namtừ năm 2004. Dự án có quy mô đầu tư mua mới 4 máy nâng, giật, chèn đường loại 08-8GS bằng vốn vay ODA của Cộng hòa Áo với giá trị khoản vay trên 3,6 triệu Euro.
Máy chèn 08-8GS là loại máy công trình, tự di chuyển tới địa điểm thi công và tự di chuyển trở về vị trí tập kết, máy thuộc thế hệ mới, hiện đại, nhiều tính tiện ích; thi công được trên đường đặt các loại tà vẹt gỗ, sắt, bê tông, đường đặt 3 ray. Trong quá trình thi công máy đồng thời thực hiện được các công việc nâng, giật, chèn đường trên tất cả đường thẳng, đường cong, đường trong hầm, đường trên cầu bê tông có máng balát, đường ghi, đường ở khu gian có sử dụng thiết bị đóng đường bán tự động và tự động, đường cong có R > 95m, đường có độ dốc dọc < 17%o mà các máy chèn đường của Trung Quốc và các nước khác chưa thể thực hiện được. Máy có chương trình tự động hoá rất cao; hầu hết các công việc trong quá trình thi công được điều khiển bằng Computer; có 2 blốc với 8 búa chèn sẽ đồng thời chèn được cả 2 bên ray. Máy hoạt động bình thường được cả ban ngày và ban đêm ở điều kiện thời tiết cho phép. Năng suất máy đạt max 500m/h (trên những đường thẳng, nền đá tơi xốp, khoảng cách tà vẹt đều và các điều kiện thuận lợi khác......), gấp nhiều lần so với các loại máy chèn đường của Trung Quốc. Máy thi công xong đường được trả tốc độ ổn định để khai thác ngay và làm cơ sở để nâng tốc độ chạy tầu cho giai đoạn tiếp theo. Sau thi công bằng các máy nâng, giật, chèn loại 08-8GS, kết cấu tầng trên đường sắt được ổn định, tăng tuổi thọ của các loại vật liệu và đầu máy, toa xe, giảm đáng kể hiện tượng xóc, lắc của đường, tăng mức độ êm thuận khi nâng tốc độ chạy tầu.
Thống nhất chọn loại máy nâng, giật, chèn đường loại 08-8GS của Cộng hoà Áo là phù hợp với điều kiện Việt Nam và các thông số kỹ thuật của kết cấu tầng trên đường sắt Việt Nam hiện tại và sau này. Phát huy hết tính năng kỹ thuật của máy trong quá trình sử dụng, đảm đương được tất cả các công việc từ khâu kiểm tra, thi công và hoàn thiện sau thi công.
Công ty Plasser & Theurer (Cộng hoà Áo) là một công ty chuyên chế tạo các loại máy thi công sửa chữa đường sắt có uy tín và đứng hàng đầu thế giới về lĩnh vực này. Sản phẩm của công ty hiện có mặt ở 132 nước trên thế giới, được đánh giá rất cao về tính tiện ích và độ bền của máy.
Máy chèn 08-8GS dễ vận hành, thao tác thuận tiện đơn giản, trạng thái đường hiện tại được kiểm tra bằng thiết bị đo đạc chuyên dùng trên máy hoặc các thiết bị đo thông thường của đơn vị, sau đó các thông số kỹ thuật của đường cần sửa chữa được nạp vào máy tính điều khiển trung tâm, máy sẽ tự động làm việc đạt được các thông số hình học của đường theo yêu cầu đặt ra.
Hiệu quả nhanh chóng nhất của những thay đổi trên là sự giảm bớt mạnh mẽ tiêu hao sức lao động và chuyển hướng sang kinh doanh hoá. Đường sắt Việt Nam cũng không là một ngoại lệ. Chừng nào, Đường sắt Việt Nam còn có nhu cầu chạy tầu thì cho dù cơ sở hạ tầng có thể được củng cố tốt và tách khỏi vận doanh vẫn sẽ tồn tại yêu cầu phải duy trì cơ sở hạ tầng theo những chuẩn tắc tối thiểu. Bởi vậy, không kể đến các yêu cầu rộng lớn hơn trong các công việc cải tạo lớn nhằm tạo điều kiện cho việc khai thác có lãi, việc duy tu đường vẫn cần phải được tiếp tục tiến hành.
Tuy yêu cầu duy tu đường đã được xác định, nhưng cách thức tiến hành trong tương lai sẽ phụ thuộc vào điều kiện phát triển xã hội, quy mô sức lao động, trình độ cơ giới hoá và ngân sách có được.
I. Khái quát chung:
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 60, ngành Đường sắt đã đặt vấn đề nghiên cứu cơ giới hoá công tác sửa chữa cơ sở hạ tầng đường sắt, nhưng do chiến tranh và điều kiện máy móc, thiết bị còn thiếu, nên việc nghiên cứu cơ giới hoá chưa được chú ý. Cũng trong thời gian này, Đường sắt Việt Nam đã nhận viện trợ một số máy chèn cầm tay của Hung-ga-ry và đã thành lập đội chèn đường bằng máy ở đoạn cầu đường Hưng Hải. Sau thời gian hoạt động, máy bị hư hỏng, không có phụ tùng thay thế nên đã ngừng hoạt động. Sau đó, Đường sắt Việt Nam tiếp nhận hai đoàn tầu đại tu cơ giới đồng bộ do Cộng hoà dân chủ Đức gửi tặng, đồng thời với tinh thần tự lực ngành Đường sắt đã tự thiết kế, chế tạo các loại máy móc thiết bị chuyên dùng: Máy chèn đường CĐ1, máy đặt và tháo dỡ các cầu ray CT1, CT2...
Đỉnh cao của công tác cơ giới hoá sửa chữa cơ sở hạ tầng đường sắt là lần đầu tiên ngành Đường sắt tổ chức thi công cơ giới đồng bộ tại công trình đại tu toàn diện đường số 1, 2, 3 ga Hà Nội vào tháng 5 năm 1971. Sau ngày thống nhất đất nước, Đường sắt Việt Nam đã tiếp nhận một số máy móc thiết bị của đường sắt Miền Nam như: Máy sàng đá 10CB5 của hãng MATISA - Thuỵ Sĩ, máy uốn nắn mối ray gục, máy nâng, giật, đường, máy chèn đường, máy ban đá.
Từ thực tế sau các đợt chỉnh tu cơ sở hạ tầng để rút ngắn hành trình chạy tầu tuyến đường sắt Hà Nội - Tp. Hồ Chí Minh và các tuyến đường có năng lực thông qua lớn; trên các tuyến đường này hầu hết tà vẹt đã được bê tông hoá, liên kết ray với tà vẹt bằng các bulông nối giữ; công tác chèn đường bằng thủ công khó thực hiện, không còn phù hợp và công tác vặn (xiết) bulông bằng các dụng cụ thông thường không đảm bảo sự đồng đều của lực vặn (xiết). Để giải quyết những khó khăn này, năm 1993 các máy chèn đường loại nhỏ của Trung Quốc XYD-2A và XYD-2B được nhập khẩu và sử dụng trên ĐSVN; đã phát huy có hiệu quả trong công tác sửa chữa đường sắt. Có nhiều máy móc, thiết bị được nhập khẩu từ Cộng hoà Pháp đã đảm đương được rất nhiều công việc trong sửa chữa đường như: vặn xiết bulông TEM1; máy cưa ray MTX; máy khoan ray PR8; máy mài ray MP12; thiết bị uốn, nắn, nâng ray JA40; phun cát tẩy gỉ, phun sơn các dầm cầu thép, thiết bị hàn ray bằng phương pháp hàn ga nén ép, nhiệt nhôm (tất cả đều không phải phong toả khu gian khi thi công). Mua và đóng mới nhiều xe ôtô ray chuyên dùng, xe vận tải lắp cẩu nâng hàng. Đặc biệt ngành đã đầu tư mua mới xe đo, ghi kiểm tra đường MPV 9AB của Matisa - Thuỵ Sĩ và các loại máy móc, thiết bị hiện đại với số vốn đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng.
II. Lựa chọn các dự án đầu tư:
1. Quá trình thực hiện dự án:
Đề cập đến các công việc trong duy tu, sửa chữa đường sắt thì công tác nâng, giật, chèn đường là nặng nhọc và chiếm tỷ trọng chi phí lớn; ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đường sau sửa chữa. Ưu tiên cơ giới hoá công tác này là hướng đi đúng và cần thiết, cơ bản giải quyết được các sai số về thông số hình học, tăng thời gian ổn định tầng trên của tuyến đường.
Với mục tiêu tiến hành cơ giới hoá 100% công tác sửa chữa đường sắt; Đường sắt Việt Nam đang tích cực hoàn tất thủ tục đầu tư các dự án lớn bằng nguồn vốn vay ODA của Cộng hoà Pháp và Cộng hoà Áo lên đến gần 300 tỷ đồng. Như vậy, từ nay đến năm 2010 nguồn kinh phí đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ công tác duy tu, sửa chữa đường sắt là rất lớn; sẽ đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về chất lượng đường khi chạy tầu tốc độ cao, đủ điều kiện nối mạng đường sắt thuộc các nước ASEAN và liên vận Quốc tế.
Có nhiều quan điểm về lựa chọn chủng loại máy móc, thiết bị; tuy nhiên, loại máy 08 - 8GS của Cộng hoà Áo là phù hợp với công nghệ sửa chữa đường sắt Việt Nam. Đường sắt Việt Namđã trình và được Thủ tướng Chính phủ cho phép Đầu tư dự án "Mua sắm máy móc, thiết bị để cơ giới hóa công tác sửa chữa đường sắt". Dự án được triển khai từ năm 1999 và hoàn thành năm 2003. Các máy móc, thiết bị chính thức khai thác trên đường sắt Việt Namtừ năm 2004. Dự án có quy mô đầu tư mua mới 4 máy nâng, giật, chèn đường loại 08-8GS bằng vốn vay ODA của Cộng hòa Áo với giá trị khoản vay trên 3,6 triệu Euro.
Máy chèn 08-8GS là loại máy công trình, tự di chuyển tới địa điểm thi công và tự di chuyển trở về vị trí tập kết, máy thuộc thế hệ mới, hiện đại, nhiều tính tiện ích; thi công được trên đường đặt các loại tà vẹt gỗ, sắt, bê tông, đường đặt 3 ray. Trong quá trình thi công máy đồng thời thực hiện được các công việc nâng, giật, chèn đường trên tất cả đường thẳng, đường cong, đường trong hầm, đường trên cầu bê tông có máng balát, đường ghi, đường ở khu gian có sử dụng thiết bị đóng đường bán tự động và tự động, đường cong có R > 95m, đường có độ dốc dọc < 17%o mà các máy chèn đường của Trung Quốc và các nước khác chưa thể thực hiện được. Máy có chương trình tự động hoá rất cao; hầu hết các công việc trong quá trình thi công được điều khiển bằng Computer; có 2 blốc với 8 búa chèn sẽ đồng thời chèn được cả 2 bên ray. Máy hoạt động bình thường được cả ban ngày và ban đêm ở điều kiện thời tiết cho phép. Năng suất máy đạt max 500m/h (trên những đường thẳng, nền đá tơi xốp, khoảng cách tà vẹt đều và các điều kiện thuận lợi khác......), gấp nhiều lần so với các loại máy chèn đường của Trung Quốc. Máy thi công xong đường được trả tốc độ ổn định để khai thác ngay và làm cơ sở để nâng tốc độ chạy tầu cho giai đoạn tiếp theo. Sau thi công bằng các máy nâng, giật, chèn loại 08-8GS, kết cấu tầng trên đường sắt được ổn định, tăng tuổi thọ của các loại vật liệu và đầu máy, toa xe, giảm đáng kể hiện tượng xóc, lắc của đường, tăng mức độ êm thuận khi nâng tốc độ chạy tầu.
Thống nhất chọn loại máy nâng, giật, chèn đường loại 08-8GS của Cộng hoà Áo là phù hợp với điều kiện Việt Nam và các thông số kỹ thuật của kết cấu tầng trên đường sắt Việt Nam hiện tại và sau này. Phát huy hết tính năng kỹ thuật của máy trong quá trình sử dụng, đảm đương được tất cả các công việc từ khâu kiểm tra, thi công và hoàn thiện sau thi công.
Công ty Plasser & Theurer (Cộng hoà Áo) là một công ty chuyên chế tạo các loại máy thi công sửa chữa đường sắt có uy tín và đứng hàng đầu thế giới về lĩnh vực này. Sản phẩm của công ty hiện có mặt ở 132 nước trên thế giới, được đánh giá rất cao về tính tiện ích và độ bền của máy.
Máy chèn 08-8GS dễ vận hành, thao tác thuận tiện đơn giản, trạng thái đường hiện tại được kiểm tra bằng thiết bị đo đạc chuyên dùng trên máy hoặc các thiết bị đo thông thường của đơn vị, sau đó các thông số kỹ thuật của đường cần sửa chữa được nạp vào máy tính điều khiển trung tâm, máy sẽ tự động làm việc đạt được các thông số hình học của đường theo yêu cầu đặt ra.