PDA

View Full Version : Hồi ức, chuyện kể, hình ảnh đường sắt miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ trước 1975


sakuraluu
02-21-2010, 11:49 AM
Ký ức “Thành phố cầu”

(THO) - Ngày 20 tháng 4 năm 2009 Báo Thanh Hóa phối hợp với Thành ủy TP Thanh Hóa và Hội Văn nghệ Thanh Hóa tổ chức phát động cuộc thi ký, thơ, sưu tầm tư liệu, hiện vật, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Chiến thắng Hàm Rồng. Sau hơn 8 tháng phát động (đến hết ngày 31-12-2009), Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được gần 200 tác phẩm dự thi. Từ số báo này, Báo Thanh Hóa trân trọng đăng tải lần lượt các tác phẩm đạt yêu cầu về chất lượng, đúng thể lệ cuộc thi.
Đã là mùa hè. Dòng sông phẳng lặng. Nước sông trong xanh. Đôi bờ rợp kín bóng cây. Phía thượng nguồn in bóng những ngọn núi đồi cao vợi. Bên bờ bắc là ngọn Hàn Sơn cheo leo, nằm sát mép nước, ở đó có ngôi đền, gọi là đền Hàn. Đền Cây thị, bên dưới đền Hàn, cũng nằm ở lưng chừng núi đá, nơi ngọn núi dầm chân xuống dòng sông. Cả hai ngôi đền này đều thuộc địa phận huyện Hà Trung. Phía bờ nam là huyện Hậu Lộc, có làng Châu Tử, Ngọc Tử - những địa danh đã được tác giả Tào Mạt đưa vào vở chèo nổi tiếng: “Đường về trận địa”, suốt một dải ven sông, là những dãy cây vải um tùm tán lá vươn ra in bóng tận giữa dòng sông. Mùa vải chín, từng chùm quả trĩu trịt, đỏ thắm giữa màu xanh của cây lá, sóng nước. Tiếng chim tu hú lảnh lót vang vọng. Tiếng chim như những chuỗi âm thanh, va vào vách đá, rơi xuống mặt sóng, rồi như một phản xạ tự nhiên bay vút lên, lan tỏa đi xa thẳm, mênh mông trời đất. Những miền xa, không có vườn vải, nghe tiếng chim tu hú cũng thấy xốn xang trong lòng. Tiếng chim tu hú cũng có nghĩa là lúa chiêm vào kỳ chín rộ. Rất gần và cũng rất xa, chim cu gáy gọi bạn tìm về mùa quả chín. Đứng ở cầu Đò Lèn, nhìn về thượng nguồn, đôi bờ bóng núi, bóng cây che kín cả mặt sông khiến người ta cứ ngỡ như dòng sông bắt đầu từ đó. Cái hình thế ấy đã tạo nên nhiều thuận lợi trong những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, mà nơi đây, cầu Đò Lèn, ga Đò Lèn nằm trên Quốc lộ số Một, là những trọng điểm quan trọng của tuyến đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam.

[B][I] Cuộc chiến ác liệt từ những năm 1965 đến năm 1973, hình như không ngày nào là không có bom đạn trút xuống nơi này. Một vùng Đò Lèn, cả cầu, cả nhà ga, cả những vùng dân cư lân cận: các xã Hà Phong, Hà Ngọc, Hà Ninh... của huyện Hà Trung đều bị bom đạn Mỹ gần như san phẳng, nhân dân đi sơ tán đến chiều tối mới về. Tất cả mọi hoạt động đều chuyển về ban đêm. Ban ngày máy bay Mỹ có thể ném bom bất cứ lúc nào, vào thời điểm ác liệt, có đêm chúng ném bom tọa độ. Khu vực cầu Đò Lèn, ga Đò Lèn là hai trọng điểm ném bom của chúng. Máy bay từ biển bay vào phát hiện mục tiêu ở khu vực này không có gì là khó. Tất cả đều phơi ra rõ mồn một. Ga Đò Lèn tan hoang, không tàu, không hàng chứ đừng nói đến hành khách. Thời bom đạn làm gì có tàu chở khách? Tất cả mọi phương tiện giao thông vận tải đều dành để chuyên chở hàng hóa phục vụ cho tiền tuyến lớn miền Nam. Cả một vùng sông bến, đường sá, làng xóm không một tấc đất vẹn nguyên. Nhà cháy, nhà sập, hố bom chồng lên hố bom. Tất cả, sự tan hoang, hủy hoại ấy là mục đích duy nhất của kẻ thù, đó là cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam.

Vừa tốt nghiệp Đại học Bách khoa, anh còn trẻ lắm, mới 24 tuổi đầu được phân công vào đội cầu 202 do Tổng cục Đường sắt thành lập với nhiệm vụ bảo đảm giao thông cửa ngõ phía bắc khu bốn cũ, từ Dốc Xây tiếp giáp với tỉnh Ninh Bình, vào đến phía bắc ga Nghĩa Trang. Cung đường này, đường sắt và đường bộ liền kề chạy song song với nhau. Địch đánh đường sắt cũng có nghĩa là đánh cả đường bộ và ngược lại, đánh đường bộ cũng có nghĩa là đánh đường sắt. Đánh phá đường còn dễ chữa, nhưng đánh cầu thì khó khôi phục giao thông, trên tuyến đường dài khoảng trên dưới 20 cây số lớn nhỏ có tới 4 cây cầu. Trọng điểm là cầu Đò Lèn, cầu lại cách ga Đò Lèn không đến 1 km. Nhập cuộc với cuộc sống mới mẻ, cũng là nhập cuộc với những thử thách giữa cuộc chiến tranh gay go ác liệt của dân tộc đối đầu với một kẻ thù có những vũ khí tối tân như con ma, thần sấm, B52... và đủ loại bom đạn lớn, nhỏ, xa, gần từ trên trời lao xuống. Kiến thức tiếp nhận trên ghế nhà trường mới chỉ là lý thuyết, còn thực tế lại đặt ra cho anh biết bao nhiêu câu hỏi. Ngày đầu tiên theo đội trưởng Trần Mãn đi hiện trường (anh Mãn được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động ngành giao thông vận tải năm 1967) anh bàng hoàng trước sự tàn phá dã man của không lực Hoa Kỳ. Anh nhanh chóng nhận thức được nhiệm vụ của mình ở điểm giao thông quan trọng này. Hơn 80 sinh viên tốt nghiệp cùng khóa với anh đều được bổ xung về các cơ quan đầu não của các bộ, ngành và những vùng trọng điểm của cả hai chiến trường Nam Bắc. Đội cầu 202 có gần 200 người, phần lớn là công nhân và kỹ thuật sơ, trung cấp, chỉ có 2 kỹ sư, 1 kỹ sư đường và anh là kỹ sư cầu. Sau này đội được bổ xung thêm một kỹ sư nữa làm công tác quản lý.

Công việc đầu tiên anh được giao đó là thiết kế trục vớt chiếc đầu máy tàu hỏa bằng hơi nước do máy bay Mỹ oanh tạc bị đổ xuống vùng đồng lầy thôn Kim Đề, xã Hà Ngọc, để đưa về Hà Nội sửa chữa kịp thời có đầu máy phục vụ cho đường sắt. Đầu máy, toa xe hồi ấy rất hiếm. Tìm hiểu tầng địa chất, người dân ở đây cho biết vùng đồng lầy này thuộc dạng lầy lội nhất. Đi cấy, người ta phải đem theo mỗi người một tấm ván ngồi trên đó mà trườn trên mặt bùn, nắm bùn vào gốc cây mạ rồi ném xuống chứ đâu có cắm được cây lúa theo hàng lối tử tế. Còn nếu lội xuống thì khó lòng mà lên được, càng muốn rút chân lên, thì bùn càng kéo sâu xuống, cứ như có người cầm chân lôi xuống. Thế mà cái đầu máy bằng sắt thép cồng kềnh nặng trăm tấn lại bị rơi xuống đấy. Quả là nan giải, anh lại chưa hề có một chút kinh nghiệm, vốn sống thực tế nào, lại cũng chưa quen với bom đạn, vì những ngày còn học ở trường máy may Mỹ chưa đánh phá ra Hà Nội. Thế rồi cùng các anh lãnh đạo trong đội len lỏi giữa các giờ cao điểm để ra hiện trường. Đội trưởng Trần Mãn, quê ở Thừa - Thiên Huế, dáng thấp, đậm, trầm tư nhưng thực ra anh lại rất vui tính, gần gũi với mọi người, đi hiện trường với anh, nếu có gặp máy bay đánh phá thì cảm thấy như được che chở bằng chính sự bình tĩnh, gan dạ của anh. Bao giờ anh cũng như người anh cả của đơn vị. Còn đội Phó Bùi Danh Lưu, quê Việt Trì, Phú Thọ (sau này được đào tạo trở thành Phó tiến sĩ, Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải 1985 - 1992) lại có vóc dáng thư sinh, nhưng rất thông minh, nhanh nhẹn và đặc biệt là tính quyết đoán trong công việc. Anh trở thành cộng sự đắc lực của anh Lưu, từ việc đi khảo sát hiện trường, xây dựng thiết kế, đến giám sát thi công, đi đâu, làm gì anh Lưu cũng kéo anh đi. Ăn cơm hai anh em cũng ngồi với nhau, vừa ăn vừa trao đổi, thậm chí còn là tranh luận về công việc. Cơm gạo tiêu chuẩn tháng 15 kg, cả mì, cả gạo, có khi không đủ mì, gạo phải độn ngô hoặc hạt bo bo, hai anh em đều ăn khỏe, nếu đủ cơm thì mỗi người 6, 7 bát sắt Trung Quốc là chuyện thường, anh em trong đơn vị đặt cho hai người biệt danh “bao tải chỉ xanh” của đội. Bản thiết kế trục vớt đầu máy của anh được anh Mãn và anh Lưu hoàn toàn đồng ý. Bằng phương pháp treo trục cẩu bằng tời, múp, cáp kéo đầu máy lên rồi đặt đường ray bên dưới, hạ đầu máy xuống, kéo đi. Một phương pháp rất thủ công và táo bạo, vừa sử dụng điều kiện máy móc thô sơ hiện có, lại vừa sử dụng lực lượng công nhân. Trục vớt xong đầu máy, anh cứ thấy phương pháp kỹ thuật của anh như có điều liên hệ na ná giống với cách trượt bùn cấy lúa của nông dân vùng này. Anh đã qua thử thách ban đầu, hoàn thành nhiệm vụ có thể nói là xuất sắc. Đấy là năm 1966 và cũng từ năm đó cho đến năm 1973 là thời kỳ giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc bằng không quân, chúng đánh phá các trọng điểm kinh tế, văn hóa - xã hội, cả khu dân cư, trường học, bệnh viện. Cả miền Bắc chính thức là chiến trường chia lửa cho miền Nam. Cầu Đò Lèn, ga Đò Lèn càng trở thành điểm đánh phá ác liệt của chúng. Dù thế nào cũng không để mạch máu giao thông bị gián đoạn. Tổng cục Đường sắt có chủ trương: “Qua sông không cầu, chạy tầu không ga”. Ban ngày, tất cả các cầu đều được ngụy trang khéo léo đến mức ở trên không nhìn xuống máy bay địch cứ ngỡ trên dòng sông không có chiếc cầu nào hoàn hảo có thể giao thông được (nếu là cầu đường sắt thì không có ray hoặc chỉ có dầm mà không có tà vẹt, nếu là cầu phao thì bị tháo ngắt quãng...). Ban đêm, các mảng cầu, đường ray, tà vẹt được kéo ra đặt, lắp ráp lại. Mạch máu giao thông lại thông suốt. Một khúc sông chừng vài kilômét mà có tới 3 cầu tạm đường sắt, trong đó có một cầu tạm trên cầu chính gọi là cầu tạm 1 và hai cầu tạm 2 và 3, chưa kể đến cầu phao, cho ô tô và các phương tiện vận tải thô sơ khác vượt sông. Đò Lèn được mệnh danh là: “Thành phố cầu!”. Đấy cũng là niềm tự hào của đội cầu 202 và giao thông huyện Hà Trung trong những tháng năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

Cầu Đò Lèn bị máy bay Mỹ đánh gãy gục từ năm 1965. Cầu tạm số 2 và cầu tạm số 3 thấp, mùa mưa lũ thường bị ngập tầu không thể qua sông. Lãnh đạo Đội cầu 202 quyết định làm cầu tạm ngay trên cầu chính (cầu tạm số 1). Cầu tạm 1 dễ ngụy trang đánh lừa máy bay địch, tuyến đường cho tầu vượt sông lại ngắn hơn nhiều so với tuyến đường cầu tạm số 2 và 3. Anh được giao nhiệm vụ thiết kế và bám sát thi công cầu tạm này. Với chiều dài của cầu là 150 m thì 125 m được thi công và hoàn thiện bằng rất nhiều loại nhịp tạm, (có cái thì bằng dầm bó ray, có cái thì bằng dầm chữ I, chữ U, khẩu độ ngắn...) còn lại 25 m phía bờ bắc chưa có dầm.

(còn tiếp....)

sakuraluu
02-21-2010, 11:50 AM
Mùa bão lũ năm 1967, nước ngập mênh mông, dòng sông như không có bến bờ. Xoáy chìm, xoáy nổi hung dữ như thách thức bất kỳ vật cản nào dám ngăn cản ngọn lũ từ thượng nguồn sông Mã lao về. Nhìn dòng sông mà lòng người thợ cầu nóng như lửa đốt. Hai cầu tạm số 2 và 3 và các cầu phao đều bị ngập. Giao thông bị ách tắc nghiêm trọng. Tất cả các phương án chuẩn bị trước đều được đưa ra xem xét, chọn lựa để kịp thời giải quyết khó khăn do thiên tai gây ra. Giữa đêm tối mịt mùng và mênh mông sông nước hàng trăm thanh niên xung phong, công nhân đang san lấp hố bom, khuân vác tà vẹt, đường ray để sửa chữa cầu thì xôn xao tiếng gọi tìm anh đầy vẻ lo âu: “Bộ đội tìm anh, họ bảo đoàn tầu đêm nay không qua được sông họ sẽ bắn kỹ sư!”. Có chuyện hệ trọng rồi đây. Nghĩ chưa xong thì đã thấy hai anh bộ đội sừng sững trước mặt, họ mời anh đi gặp chỉ huy của họ. Trời tối, không nhìn thấy mặt nhau, tiếng đồng chí chỉ huy ôn tồn hỏi anh: “Đồng chí là kỹ sư chịu trách nhiệm thi công ở đây?”. Anh buột ra một tiếng gọn lỏn: “Vâng”. Đồng chí chỉ huy nói tiếp: “Vì quá bức xúc nên anh em có lời lẽ không phải, tôi xin lỗi đồng chí!”. Rồi anh ấy nói luôn như sợ thời gian không còn để dài dòng với nhau: “Chúng ta có một đoàn tàu chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam, nếu đêm nay đoàn tàu này không qua được sông thì ngày mai sẽ bị máy bay đánh phá, thiệt hại cho chúng ta sẽ rất lớn. Đồng chí hiểu điều đó chứ?” Câu nói của đồng chí chỉ huy khiến anh cảm thấy đây là một nhiệm vụ quan trọng. Anh hỏi lại: “Xin đồng chí cho biết tải trọng hàng quân sự?” Đồng chí chỉ huy nói nhỏ với anh, rồi hai người bắt chặt tay nhau như cam kết. Vừa lúc ấy anh Lưu và anh Mãn cũng đến, có lẽ các anh lo lắng cho anh và cũng muốn biết chuyện gì xẩy ra? Báo cáo lại công việc với đội trường, đội phó, anh báo cáo luôn phương án nối 25 m còn lại của cầu tạm 1 để đoàn xe quân sự vượt sông. Phương án này cũng đã được chuẩn bị trước, bây giờ chỉ việc đưa ra thực hiện. Một cuộc giao ban đột xuất được triệu tập ngay trên đầu cầu. Tất cả các lực lượng công nhân và thanh niên xung phong đều được quán triệt nhiệm vụ đó là: “Nối nhịp cầu cho đoàn xe quân sự qua sông an toàn trước khi trời sáng”. Từng phân đội cầu được giao nhiệm vụ cụ thể dưới sự chỉ đạo và giám sát chặt chẽ của lãnh đạo đội và phòng kỹ thuật. Gió từ mặt sông mênh mông lồng lộng. Trời quang mây, trăng cuối tháng như đèn trời soi sáng cả một vùng sông nước, công trường. Không khí lao động hết sức khẩn trương, thi thoảng lại vọng lên câu hò giọng hát đối đáp nhau của nam, nữ thanh niên xung phong. Như trẻ lại với với kỷ niệm xưa, anh nói: “Khối lượng công việc nối 25 m cầu, rồi đặt ray cho 250 m (vừa cầu, vừa hai đường đầu cầu) phải vận chuyển 400 thanh tà vẹt rồi vừa khoan, bắt bu - lông vào dầm tạm, đồng thời kéo hai nhịp dầm tạm I 550, mỗi dầm nặng 4 tấn. Phải bỏ 100 m3 đá hộc vào lồng vây để giữ ổn định cho trụ trong điều kiện nước lũ dâng cao. Tất cả đều làm bằng tay, bằng sức người, không có máy móc cơ giới tham gia hỗ trợ. Bình thường ra, với khối lượng công việc ấy, có máy móc tham gia hỗ trợ và đầy đủ nguyên vật liệu, đội ngũ công nhân lành nghề, thì cây cầu ấy cũng phải làm mất khoảng nửa tháng trời mới xong. Thế mà từ 19 giời đến 4 giờ sáng hôm sau, trong vòng 7 tiếng đồng hồ, dầm cầu tạm và mọi công việc đều hoàn thành đúng như sự phân công, chỉ đạo của đội. Thật không thể tưởng tượng nổi. Lãnh đạo đội quyết định cho thử cầu. Đoàn tầu thử gồm hai toa đá, mỗi toa có tải trọng 45 tấn, rồi đến một toa rỗng, tiếp đến là đoàn 8 toa xe quân sự, rồi lại đến một toa rỗng và cuối cùng là đầu máy đẩy phía sau. Mọi người hồi hộp dõi theo đầu máy đẩy toa xe đá có trọng tải tương đương trọng tải toa xe quân sự vào thử cầu. Thấy đạt yêu cầu, được lệnh, đầu máy đẩy tiếp đoàn toa xe quân sự qua cầu. Những khối sắt, thép đồ sộ, phủ bạt kín mít trên các toa xe lặng lẽ tiến vào cầu. Mọi người dõi theo từng vòng bánh toa xe nặng nề, thận trọng từng chút, từng chút nhích đi, bò trên mặt thanh ray đặt trên dầm cầu tạm như bồng bềnh, như phập phồng, mà ai cũng như nghẹt thở”. Anh dừng lời, nhìn mặt sông lao xao gợn sóng như cố nén xúc động, rồi tiếp: “Anh ngồi trên toa xe hàng qua cầu như là sự trấn an cho mọi người. Anh hoàn toàn tự tin và thấy tự hào. Anh nghĩ giờ phút này, trên nhịp cầu này, niềm vinh dự anh đang có đó là được ngồi bên và tiễn đưa những con voi thép qua sông, ra trận. Cả đội cầu chỉ mình anh biết những toa xe đặc biệt này là những chiếc xe tăng đầu tiên vào chiến trường miền Nam. Khi toa xe rỗng nối liền với đầu máy đã chớm đến mỗ cầu bên kia, nghĩa là tám toa xe hàng, tám cỗ xe tăng, đã qua sông an toàn. Đầu máy dừng lại bên mố cầu tạm bờ bắc xả mạnh van hơi, như người thở phào nhẹ nhõm vì vừa cất đi một gánh nặng quá sức mình. Niềm vui không thể nào tả xiết của bộ đội và của cả đội cầu. Chuyện cứ như trong mơ, có mấy tiếng đồng hồ, trong một hoàn cảnh đặc biệt, một nhịp cầu được nối trong đêm. Một đoàn tàu đặc biệt ra trận. Khi chia tay, đồng chí chỉ huy đơn vị xúc động nắm chặt tay anh. Đồng chí gửi tặng đội cầu một tút thuốc lá Thủ Đô và một thùng lương khô 702”.

Kể từ ngày ấy đến nay đã hơn 40 năm, người thợ cầu trở lại thăm nhịp cầu xưa, anh kể cho tôi nghe những kỷ niệm về thời đạn, bom ác liệt và ký ức về “Thành phố cầu” mà anh không thể nào quên. Đứng giữa nhịp cầu, anh đặt tay lên những thanh sắt thép cây cầu như đặt tay lên thân thể người thân và lặng lẽ lấy khăn mùi xoa lau mắt kính. Tôi không dám cắt ngang niềm xúc động của anh. Cây cầu bây giờ là chứng tích của chiến tranh. Bỗng anh quay nhìn về phía hạ lưu, cách cầu cũ không xa, nhịp cầu mới hiện đại bền vững, như một nét gạch ngang giữa quá khứ và hiện tại. Anh trầm tư nói: “Con người thì già đi, nhịp cầu thì trẻ lại như chính tuổi trẻ của thời đại”. Phía cuối dòng sông, những mảng bè nằm bên bờ bến như nghỉ ngơi sau những cuộc vật lộn với ghềnh thác của thượng nguồn sông Mã ngang tàng mà lãng mạn. [/I][/B]
V.T.M
(*) Ghi theo lời kể của kỹ sư Hoàng Hữu Tạo, nguyên là cán bộ kỹ thuật Đội cầu 202, Đò Lèn từ năm 1966 - 1972.