PDA

View Full Version : Hành trình 1000 năm Thăng Long-Hà Nội


sakuraluu
02-01-2010, 10:09 PM
Đây là một sự kiện cực lớn của dân tộc ta nói chung và của thủ đô nói riêng. Từ năm 2009 đến 10/10/2010 có rất nhiều những hoạt động cũng như những bài viết có giá trị đáng được tham khảo lâu dài, mình mở thread này để anh em có thể có "khu vực tập kết" các bài viết có giá trị cùng đề tài này vào đây.

Khám phá dòng họ Lý từ khởi nguồn đến Lý Công Uẩn (Bài 1) (TT&VH) - LTS: Đã bước sang năm 2010 - năm của 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đầu năm mới, TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á đã đưa ra loạt bài viết thể hiện một góc nhìn rất riêng về nhà Lý - triều đại khởi dựng Thăng Long. TT&VH xin trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây của ông.

Từ gương đồng họ Lý ở Giao Châu

Đây được coi như một trong số ít dòng họ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Bằng chứng khảo cổ đã phát hiện được từ thế kỷ 2 sau CN, họ Lý đúc gương đồng (Lý thị tác kính).

Thảo luận về những gương Lý thị tác kính, có người phản biện rằng biết đâu những gương đó được đúc ở Trung Nguyên rồi đem lưu hành ở Việt Nam, chứ chưa chắc họ Lý đã thực sự có mặt ở Việt Nam từ thời đó. Năm 2006 tôi có dịp đi Nhật thảo luận về vấn đề gương đồng với những chuyên gia hàng đầu thế giới tại Nhật Bản và mọi người đi đến nhất trí dự đoán khả năng có một trung tâm đúc gương riêng ở Giao Châu. Gương Lĩnh Nam đào được khá nhiều ở Giao Châu. So với những sưu tập gương ở Lạc Dương, Hồ Nam, Triết Giang, Sơn Đông... đều không thấp kém hơn, đặc biệt ở giai đoạn gương đồng phát triển nhất, từ thế kỷ 1 trước CN đến thế kỷ 3 sau CN.

Hơn nữa, Lý thị không chỉ đúc gương mà còn làm gốm, đúc các đồ đồng thông dụng khác.

Trên một đồ đựng bằng đồng khai quật tại Quảng Đông còn nguyên dòng minh văn, tạm dịch: Vào trung tuần tháng bảy năm thứ năm đời Nguyên Sơ (năm 143 sau Công nguyên) Lý Văn Sơn người Tây Vu điều hành việc đúc đồng. Huyện Tây Vu lúc đó là một huyện nhỏ do Mã Viện tách ra từ huyện Tây Vu cũ thành ba huyện: Tây Vu, Phong Châu và Vọng Hải. Huyện Tây Vu đời Nguyên Sơ bao gồm cả vùng đất Bắc Ninh, Bắc Giang trọng tâm là các vùng Quế Võ, Phả Lại, Thiên Thai...

Trên một chiếc vò sành đời Hán được Clemant Huet sưu tầm tại Thanh Hóa trước Thế chiến I, hiện trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về nghệ thuật và lịch sử (Brussel) có khắc dòng chữ: “Kiến hòa tam niên nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác”. Tạm dịch: Họ Lý sản xuất ngày hai mươi tháng nhuận năm thứ ba đời Kiến Hòa (năm 149 sau Công nguyên).
Chúng ta sẽ không sa đà quá sâu về vấn đề gương đồng ở đây. Hiện tượng gương họ Lý xuất hiện ở Việt Nam không thể tách rời sự hiện diện của dòng họ đó. Các gương minh văn ghi họ đều không phải là hàng thương mại. Chúng gắn với từng dòng họ cụ thể, dùng để vinh tôn chủ nhân dòng họ hoặc làm quà tặng những nhân vật quyền quý trong xã hội. Kết hợp với các nguồn tài liệu khác, chúng ta có thể xác nhận sự hiện diện của một dòng họ Lý có tiềm lực về kinh tế, chính trị trong thời kỳ đầu lịch sử Bắc thuộc ở Việt Nam.

Họ Lý Việt Nam và họ Lý Trung Quốc

Nhân vật lịch sử họ Lý người Giao Châu làm quan đời Hán được ghi nhận sớm nhất là Lý Tiến, tự là Đăng Cao (năm 137sau CN). Niên đại này rất phù hợp với những gương đồng Lý thị tác kính và những hiện vật khảo cổ học có minh văn “Lý thị” đã phát hiện ở Việt Nam.

Trước đó, truyền thuyết dân gian ghi nhận nhân vật họ Lý người Việt làm tướng đời nhà Tần là Lý Ông Trọng, đền thờ rất linh thiêng ở Chèm, huyện Từ Liêm, phía bắc Hà Nội. Theo thần tích Đền Chèm, Lý Ông Trọng tên thật là Lý Thân (Thận), người làng Chèm, sống ở thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) và thời An Dương Vương. Ông có sức vóc to lớn, giỏi võ nghệ, giúp nhà Tần đánh đuổi giặc Hung Nô. Sau khi Lý Ông Trọng về quê, quân Tần làm tượng đồng giả hình nhân khổng lồ của ông để dọa đánh quân Hung Nô.

Một ông thành hoàng họ Lý khác hiện được thờ ở đền Bạch Mã (phố hàng Buồm, Hà Nội) là Lý Tiến đã giúp vua Hùng đánh giặc Ân cùng thời Thánh Gióng.

Thống kê những nhân vật lịch sử có liên quan trong thời Bắc thuộc, ta nhận thấy hàng chục thứ sử, thái thú hay hào trưởng, quan lại mang danh họ Lý. Người họ Lý là Lý Thiện, người Nam Dương (Hồ Nam) làm quan sớm nhất với chức Thái thú Nhật Nam và Cửu Chân đời Hán Hiển Tông. Tuy nhiên, trong số các nhân vật họ Lý được lưu danh không phải ai cũng có nguồn gốc Giao Chỉ.

Khi phân tích về Sĩ Nhiếp và Lý Bí, các sử gia đều nhắc đến nguồn gốc bao nhiêu đời đến và sống ở Giao Chỉ. Điều đó có nghĩa rằng số dân từ vùng khác đến ngụ cư ở đồng bằng sông Hồng hồi đầu Công nguyên rất lớn. Tổ Lý Bí cũng từ phía Bắc sang đất Việt sớm hơn, từ thời Tây Hán, qua 7 đời thành người Việt. Đến thời Lý Bí tính ra cũng trải hơn 20 đời.

Dòng họ Lý, theo thống kê gần đây nhất, đứng đầu Bách Tính của Trung Quốc về số lượng người. Tình hình có lẽ cũng tương tự ở Việt Nam nếu tính một số lượng lớn dòng họ Nguyễn chuyển sang từ họ Lý trong đời nhà Trần. Có hai lý do giải thích hiện tượng này và đều liên quan đến các họ Lý thời Bắc thuộc.

Thứ nhất, trong khối Bách Việt vùng Lĩnh Nam có một khối lượng lớn các tộc Lý - Lão (Lee, Liao). Dưới tác động của Trung Nguyên thời nhà Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc), nhiều nhóm tộc đã tham gia chính sự Trung Nguyên hoặc tự hình thành các mô hình tổ chức xã hội kiểu Chiefdom (thủ lĩnh). Theo cách đặt tên, họ truyền thống, thì địa danh, tộc danh sẽ được dùng cho tính danh, quốc danh. Vì vậy, tùy mức độ phát triển mà những cư dân của các chiefdom, tiểu quốc Lý, Lão vùng Lĩnh Nam chuyển mang họ Lý. Sau này, chúng ta sẽ lấy làm dễ hiểu tại sao trong chiến cuộc chống quân Lương, Lý Bí, Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử lại thường hay rút về các động Lão, Ai Lao... Khối họ Lý lớn nhất xuất hiện vào khoảng Chiến Quốc - Tần Hán, mang đậm màu sắc bản địa Lĩnh Nam gắn bó chặt chẽ với văn hóa Yue (Việt) .

Trong quá trình Hán hóa, một bộ phận các tộc danh Lý ở Lĩnh Nam đã dần biến thành họ Hoa, một bộ phận ở Giao Châu trở thành họ Việt. Rất có thể họ Lê ở Việt Nam cũng bắt nguồn sâu sắc từ một nhánh Lý Lão nào đó giống như họ Lý.

Thứ hai, họ Lý trong quá trình phát triển ở Trung Nguyên đã mở ra một triều đại rực rỡ vào loại nhất trong lịch sử Trung Hoa, đó là nhà Đường với vị hoàng đế đầu tiên là Lý Thế Dân. Hào quang của nhà Đường đã lôi cuốn tiếp các tộc người nhỏ ở Giang Nam, Tây Tạng, Sơn Đông, Mãn Châu còn trong tình trạng cộng đồng nguyên thủy nhận họ Lý. Đó là lớp họ Lý thứ hai mang đậm màu sắc ảnh hưởng của họ Lý Hoa Hạ thời Đường.

Tạo lập vương triều

Chúng ta cần nhấn mạnh vai trò họ Lý thời Bắc thuộc, bởi trong thời kỳ này có nhiều danh nhân họ Lý là sợi dây gìn giữ và phát triển bản chất cát cứ, độc lập của Giao Chỉ và cuối cùng đã góp phần tạo lập vương Triều Lý, nền tảng Đại Việt vững vàng với kinh đô ngàn năm Thăng Long.

Thống kê danh sách hàng ngũ quan lại hàng đầu đã cai trị Giao Châu trong thời bắc thuộc (Thứ sử, Thái thú, Đô úy, Tiết độ sứ...) có thể nhận thấy trung bình mỗi thế kỷ xuất hiện vài ba người họ Lý, trong đó có những thứ sử họ Lý đã từng chủ chương cát cứ độc lập. Tiêu biểu nhất là cuộc nổi dậy của Lý Bí lập nước Vạn Xuân giữa thế kỷ 6. Điều đó chứng tỏ họ Lý ở Giao Châu chẳng những tiếp tục tồn tại và phát triển, hình thành một nhóm tộc hùng mạnh ở vùng đất Tây Vu, Phong Khê, Long Biên cũ mà còn mở rộng ra nhiều địa bàn của Giao Châu. Trong thời loạn 12 sứ quân, đó là lực lượng nòng cốt của sứ quân Lý Khuê (Lãng Công). Sứ quân này trấn trị vùng Siêu Loại, tức vùng văn hóa lịch sử sông Dâu, sông Đuống, Luy Lâu thời Hán. Thế hệ tiên tổ của Lý Công Uẩn tương truyền từ đất Mân trở về hẳn đã bắt rễ với nhóm tộc Lý này. Sau ngày lập quốc, chính đây trở thành vùng “đất tổ” của dòng vương thất Lý.

Sau khi nhà Trần diệt nhà Lý đã chủ trương làm tuyệt dòng họ Lý bằng cách đổi toàn bộ họ Lý ra họ Nguyễn. Chữ Lý trở thành một chữ cấm kỵ trong mấy trăm năm đời Trần. Vì vậy, họ Lý trở nên ít ỏi như ngày nay, thay vào đó là vô số họ Nguyễn. Vì thế không nên quên rằng Lý Công Uẩn đã có thể thực hiện được các ý tưởng chính trị của mình, trong đó có việc quyết định dời đô, là có nhờ vào lực lượng đông đảo các dòng tộc Lý ở Giao Châu đương thời.

sakuraluu
02-01-2010, 10:12 PM
Ai là người trao “sổ đỏ” thành Đại La cho Lý Công Uẩn?

(TT&VH) - Tòa thành cũ Đại La khi trở thành kinh đô Thăng Long vào tháng 7 năm 1010 đã là một kinh đô Đại Việt được chuẩn bị hoàn tất. Thời gian chuẩn bị ngắn ngủi chỉ vài tháng trời không thể đủ nếu phải xây dựng một kinh đô mới. Vậy nền tảng vật chất cho kinh đô mới Thăng Long đã được chuẩn bị như thế nào? Bài viết sau đây của TS Nguyễn Việt sẽ đưa ra một cách lý giải về điều này.
Chuẩn bị dời đô chỉ trong 5 tháng

Tháng 7 Âm lịch năm 1010, thuyền rồng đưa triều đình nhà Lý từ Hoa Lư cập bến dưới chân thành Đại La. Theo biên niên sử, ý tưởng dời đô có thể hình thành thực sự từ mùa Xuân năm đó. Vốn là, sau khi lên ngôi cuối năm 1009, Lý Công Uẩn thu xếp việc triều chính, làm lễ lên ngôi, ăn Tết ở Hoa Lư rồi tháng hai năm 1010 về thăm quê Cổ Pháp (Bắc Ninh). Đối với Lý Công Uẩn, ý tưởng tái lập nơi đặt bộ máy điều hành đất nước ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng - là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của đất nước đương thời hẳn đã hình thành từ lâu, nhưng thời điểm mang tính quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La hẳn đã xuất phát từ cuộc thăm quê mùa Xuân năm 1010.
Chúng ta đều biết, Lý Công Uẩn người gốc Giao Châu, được giới thiệu xung cấm vệ quân từ hơn 10 năm trước, dưới triều nhà Tiền Lê. Từ đó, cuộc sống của viên tướng cấm vệ, rồi lấy vợ, sinh con (Lý Phật Mã) đã gắn liền ông với kinh đô Hoa Lư. Nhưng ngay sau khi lên ngôi, ông đã về thăm quê và hình thành rất nhanh quyết định dời đô. Chỉ 3 tháng sau khi thăm quê, tức vào tháng 5 năm ấy, ông đã hoàn chỉnh kế hoạch dời đô và chính thức tuyên bố trước triều đình bằng Chiếu Dời đô. Như vậy, công cuộc thực sự chuẩn bị cho dời đô chỉ diễn ra trong vòng 5 tháng (từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1010).

Sử sách ghi nhận, ngay khi chuyển về kinh đô Thăng Long, triều đình đã ổn định được ngay. Các ghi chép sau đó về việc xây dựng thêm các cung điện chỉ là để mở rộng các hoạt động của triều đình. Điều đó chứng tỏ tòa thành Đại La khi trở thành kinh đô Thăng Long vào tháng 7 năm 1010 đã là một kinh đô Việt được chuẩn bị hoàn tất. Sự chuẩn bị này có thể được tăng cường từ tháng 5, tức sau Chiếu Dời đô. Nhưng rõ ràng thời gian ngắn ngủi chưa đầy 2 tháng không thể đủ nếu phải xây dựng một kinh đô mới. Vậy nền tảng vật chất cho kinh đô mới Thăng Long đã được chuẩn bị như thế nào?

Thời Lý Bí đã chọn mảnh đất Hoàng thành làm trung tâm

Lịch sử chọn mảnh đất Hoàng thành hiện nay làm trung tâm đất nước sớm nhất bắt đầu với lũy thành Tô Lịch của Lý Bí trong cuộc chiến chống quân Lương thế kỷ 6. Đây là lũy thành quân sự được Lý Nam Đế xây dựng từ trước. Sau khi thất trận ở Chu Diên (vùng Hưng Yên, Hà Nam), quân đội nước Vạn Xuân đã rút về cố thủ tại đây.

Chúng ta chưa có nhiều bằng chứng để khẳng định lũy thành này là kinh đô của nước Vạn Xuân đương thời. Nhưng dường như do hoạt động của triều đình nước Vạn Xuân dày đặc ở vùng quanh Hà Nội ngày nay như Long Biên, Ô Diên, Dạ Trạch... nên sau khi bình định lại Giao Châu, xuất hiện tên một huyện mới là Tống Bình, tương truyền do nhà sơ Tống (một trong số Lục Triều - sáu triều đại thay nhau trị vì Trung Quốc sau thời Tam Quốc, thế kỷ 4-6) đặt ra, trong đó có một phần Hà Nội ngày nay. Đầu thế kỷ 7, thứ sử nhà Tùy là Khâu Hòa đã đặt thủ phủ đô hộ Giao Châu ở Tống Bình và xây thành lũy đô hộ phủ đầu tiên ở kề sông Tô Lịch vào khoảng thời gian đó. Tòa thành của Khâu Hòa có tên là “Tử thành”.

Nền móng Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần

Tử thành (hay Tử Cấm thành) là cách gọi những vòng thành trung tâm trong cùng để bảo vệ vua và hoàng thất. Ở Giao Châu, đó là nơi che chở cho bộ máy đô hộ cao nhất, nơi ở và điều hành của Thứ sử. Chúng tôi cho rằng vị trí “Tử thành” hẳn đã được chọn tâm điểm ở ngay trên gò Nùng nay là vị trí điện Kính Thiên. Các đời về sau, đều đã duy trì điểm cao tâm linh đắc địa này. Dấu vết gạch ngói, giếng nước có niên đại Tùy Đường khai quật được ở khu vực Hoàng thành gần đây đã xác nhận sự có mặt của kiến trúc Tùy Đường trong Hoàng thành.

Thành La rồi Đại La sau này được nhiều đời Thứ sử tu bổ, mở rộng, trong đó chủ yếu tập trung vào việc xây dựng vòng thành bao bên ngoài Tử thành, tức vòng thành hiện nay còn lại dấu vết, trên đó có những đoạn trùng với tòa thành vô băng (vuban) xây dựng vào đời Nguyễn và vòng đê thành bao dọc theo sông Tô Lịch và sông Hồng mở rộng hơn về phía Tây và phía Nam Hoàng thành. Tiêu biểu nhất đối với thành Đại La là công cuộc hoàn thiện của Cao Biền cuối thế kỷ 8 đầu thế kỷ 9.

Người sửa tòa thành hướng Bắc thành hướng Nam

Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng tòa thành Đại La bắt đầu từ Khâu Hòa đến Cao Biền đều xây dựng theo thể chế thành trì địa phương của đế chế Tùy, Đường. Có nghĩa rằng các mặt chính của tòa thành và dinh thự hành chính đều ngoảnh về phía nơi Hoàng đế nhà Tùy, Đường ngự trị.

Thành Đại La cũng như thành Luy Lâu do Sĩ Nhiếp đắp trước đó đều mang bản chất là thành hướng Bắc. Dựa vào ghi chép trong An Nam chí lược và Việt Sử lược (sách viết vào khoảng đời Trần) thì tòa thành Đại La do Trương Bá Nghi và Cao Biền đắp đều có bốn mặt hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Ghi chép của An Nam chí lược về tòa thành do Trương Bá Nghi đắp cho biết rõ mặt thành phía Bắc là mặt chính, mở ba cửa và trên đó đều có lầu che. Hai mặt Đông, Tây cũng có ba cửa không lầu che. Riêng mặt Nam là mặt thông với khu dân cư mở tới 5 cửa trên đặt trống, loa. Như vậy, cũng giống như Luy Lâu, mặt Nam thành tuy là mặt phụ nhưng lại dành cho các hoạt động dân cư, còn mặt chính mang tính nghi lễ ngoảnh về phía Bắc.

Vậy tòa thành vốn hướng Bắc này trở thành tòa thành hướng Nam từ bao giờ?

Trong lịch sử Việt Nam, chắc chắn “sự hướng Bắc” của thành Đại La gắn liền với bộ máy thần phục ở Giao Châu với nhà Đường. Đời Tiết độ sứ cuối cùng không phải người Giao Châu là Chu Toàn Dục (905), sau đó do nhà Đường sụp đổ, Trung Quốc rơi vào tình trạng rối loạn, Nam Bắc triều, Ngũ Đại - Thập Quốc, các thế lực hào trưởng Giao Châu nổi lên chiếm quyền Tiết độ sứ ở, như cha con họ Khúc (Thừa Dụ, Thừa Mỹ), họ Kiều (Công Tiễn), họ Dương (Đình Nghệ). Các Tiết độ sứ này tuy là người Giao Châu cát cứ nhưng trên danh nghĩa vẫn thụ phong và thần phục các triều đình Trung Hoa, vì vậy đến tận khi Ngô Quyền xưng vương (939) tòa thành Đại La vẫn là một tòa Đô hộ phủ hướng Bắc. Có lẽ, đó là lý do Ngô Quyền không chọn Đại La làm kinh đô mà chọn Cổ Loa, một tòa thành bản chất hướng Nam.

Thành Đại La gần như bỏ hoang từ những năm 939 đến khi Đinh Tiên Hoàng thống lĩnh thiên hạ lập nước Đại Cồ Việt. Tuy nhiên, kinh đô nhà Tiền Lê lại được chọn đặt ở nơi hiểm yếu Hoa Lư đất Trường Châu (Ninh Bình hiện nay). Thành Đại La với cương vị trung tâm quản lý, điều hành mọi sự ở Giao Châu được giao cho Đô hộ phủ Thái sư Lưu Cơ, người đồng hương và cũng là tên đứng đầu trong hàng quan được danh xưng trong buổi lễ lên ngôi Hoàng đế của Đinh Tiên Hoàng. Vai trò của Lưu Cơ vì thế có thể sánh ngang hàng Phó vương giúp Đinh Tiên Hoàng cai quản phần đất trọng yếu và nhiều tiềm năng kinh tế nhất của đất nước đương thời, đó là toàn bộ miền Bắc nước ta từ Ninh Bình trở lên.

Như vậy có lẽ chính Lưu Cơ là người đầu tiên biến tòa thành Đại La thuộc địa hướng Bắc trở thành một tòa thành hướng Nam độc lập tự chủ. Vì khi đó, Hoàng đế Đại Việt ở Hoa Lư, tức ở về phía Nam tòa thành Đại La. Vì vậy, chắc chắn mọi hướng nhìn của cổng thành và dinh thự đời các Tiết độ sứ cũ phải được sửa đổi. Ðó chính là điều lý giải hợp lý nhất cho sự có mặt phong phú di tích kiến trúc Hoa Lư tại các cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long gần đây.

Không thể quên vai trò của Lưu Cơ dịp 1.000 năm Thăng Long

Theo ghi chép của thần phả, thần tích thì có lẽ Lưu Cơ trông coi tòa thành này cho đến khi cáo quan về hưu năm gần 70 tuổi.

Như vậy, chẳng những Lưu Cơ là người đã cai quản và tu sửa thành Đại La của An Nam Đô hộ phủ nhà Đường trở nên một tòa thành Đại Việt, mà ông còn là người chuẩn bị mọi điều kiện cơ sở hạ tầng cho cuộc dời đô của Lý Công Uẩn. Chính điều này giải thích tại sao chỉ trong một thời gian rất ngắn, triều đình nhà Lý đã có thể di chuyển từ Hoa Lư ra Thăng Long.

Vậy là chúng ta đã tìm ra chính Lưu Cơ là người đã trao chìa khóa và “sổ đỏ” tòa La thành Đại Việt cho Lý Công Uẩn sau hơn 40 năm trông coi tu tạo tòa thành này. Với ý nghĩa đó, kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long không thể quên vai trò của vị Thái sư người Ái Châu đáng kính này.

Lưu Cơ là ai?

Chúng tôi sẽ dành một bài riêng viết về nhân vật lịch sử kín đáo này. Ở đây chỉ giới thiệu tóm tắt. Theo thần tích và ghi chép trong sử sách thì Lưu Cơ người Ái Châu (vùng đất có lúc bao gồm cả khu vực Thanh Hóa và Ninh Bình hiện nay), quê ở Bồ Bát, Bạch Liên, Yên Mô tức thuộc đất Ninh Bình, là đồng hương gần với Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn. Lớn lên theo học Tri Hối tiên sinh ở Gia Viễn. Sau khi cha mẹ mất, ngoài 20 tuổi ông theo Đinh Bộ Lĩnh đánh giặc, trực tiếp dẹp sứ quân Lý Khuê ở Siêu Loại. Trong buổi thiết triều xưng danh quan tước đầu tiên của triều đình nhà Đinh, theo Việt sử lược, ông đứng tên đầu và được trao chức Thái sư Đô hộ phủ, cai quản toàn bộ Giao Châu, đóng đại bản doanh ở Phủ Đô hộ cũ, tức thành Đại La. Khi đó ông chừng 30 tuổi. Ông làm quan đến gần 70 tuổi thì cáo lão về hưu trí ở quê nhà, ba năm sau thì mất, thọ 73 tuổi. Hiện đền thờ ông còn ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên (đất Siêu Loại cũ). Tương truyền là nơi ông đóng quân dẹp loạn sứ quân Lý Khuê năm xưa.

TS Nguyễn Việt

http://ttvh.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2010/01/06/a47Luuco.JPG
Đền thờ Lưu Cơ ở làng Đại Từ (Văn Lâm, Hưng Yên)

nguyenmanhtuyen
02-01-2010, 11:52 PM
Mình xin đóng góp vào topic này với một đường link duy nhất

http://thanglonghanoi.gov.vn

các bạn đã vào thử chưa? Nhiều tư liệu quý và hay lắm:32[1]: